Friday, May 8, 2015

Sông Hương – nét dịu dàng

Sông Hương - Huế không chỉ gắn với vẻ đẹp cổ kính của những đền chùa, thành quách, lăng tẩm... mà còn nổi tiếng với dòng sông Hương thơ mộng.


Cầu Trường Tiền duyên dáng bắc qua sông Hương

Gọi là sông Hương vì từ xa xưa, dòng sông này chảy qua những cánh rừng nhiều thảo mộc có hương thơm, nên khi vào Huế, dòng sông đem theo hương thơm của cây cỏ thiên nhiên. Với độ dài 80 km, sông Hương uốn lượn trong thành phố Huế như một sự sắp đặt để làm vui lòng du khách.
Dòng nước trong xanh tĩnh lặng, thành quách, lầu xá hai bên bờ in bóng xuống dòng sông như là tranh vẽ. Chiếc cầu Trường Tiền màu trắng bạc bắc qua sông Hương, duyên dáng như cô gái Huế trong chiếc áo dài tím rất Huế…


Sông Hương như một dải lụa hiền hoà miên man chảy rồi như một người dẫn đường xuôi dòng nước đưa du khách đến miệt vườn Vỹ Dạ với vườn hoa thảm cỏ xanh mướt, ngược lên Thiên Mụ để thả mình theo tiếng chuông chùa văng vẳng, rồi đột ngột rẽ vào sông Bạch Yến tới bến Huyền Không để phiêu diêu cùng với gió mây, với thế giới của hoa trơm trái ngọt và thiền giữa một không gian cổ kính…

Màu tím dịu dàng của Huế


Sông Hương - nét dịu dàng

Wednesday, May 6, 2015

Chùa Diệu Đế

Chùa Diệu Đế toạ lạc bên bờ sông Hộ Thành, người Huế gọi là sông Gia Hội, hoặc sông Đông Ba, nay là số 100B đường Bạch Đằng, gần cầu Gia Hội.

Chùa Diệu Đế có một vị trí quan trọng trong lịch sử Phật Giáo ở Huế. Chùa nguyên là phủ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi nên đã có cảnh quan rất đẹp, với vườn tược rộng rãi, cây cối xanh tươi. Năm 1844 nhà vua đã tôn tạo và sắc phong làm Quốc tự. Chùa trở thành một danh lam của đất kinh kỳ.



Tam quan chùa Diệu Đế

Diệu Ðế là ngôi quốc tự thứ ba, được vua Thiệu Trị coi là một trong hai mươi thắng cảnh của đất kinh đô Huế.
Chùa được vua Thiệu Trị truyền lệnh xây dựng với qui mô lớn vào các năm 1842, 1844 khi mới lên ngôi vài năm, trên vùng đất nhà vua đã ra đời.
Khuôn viên chùa nằm gọn giữa bốn con đường: phía trước là đường Bạch Ðằng chạy dọc theo một nhánh sông Hương, phía sau là đường Tô Hiến Thành gần chùa Diệu Hỷ, bên trái là con đường mang tên chùa Diệu Đế và bên phải là đường chùa Ông. Kiến trúc ban đầu của chùa rất qui mô. Tuy không đẹp bằng chùa Thiên Mụ, nhưng chùa Diệu Ðế có vẻ độc đáo riêng, có bốn lầu (hai lầu chuông, một lầu trống và một lầu bia).



Chính điện là đại giác, tả hữu chính điện là Thiền Đường, phía trước điện dựng gác Ðạo Nguyên hai tầng ba gian, sau gác Ðạo Nguyên có hai lầu chuông trống xây cân đối ở hai bên, chính giữa là lầu Hộ Pháp, sân trong có La Thành, sân trước có hai nhà lục giác, nhà bên tả đặt hồng chung, nhà bên hữu dựng bia lớn khắc bài văn do vua Thiệu Trị soạn. Hệ thống La Thành ngoài chùa Diệu Ðế xây dựng kiên cố, bề thế, trước có Phượng Môn ba cửa, hai bên có cổng nhỏ, ngoài bờ sông có xây bến thuyền khoảng mười bậc lên xuống.


Trước đây, chùa Diệu Ðế có nhiều tượng Phật do được chuyển từ chùa Giác Hoàng, sau sự kiện Kinh đô thất thủ (1885). Cuối năm này, chính phủ Nam Triều đặt sở Đúc Tiền ở Cát Tường Từ Thất, phủ đường Thừa Thiên ở Trí Tuệ Tịnh Xá và một tăng phòng làm nhà lao của tỉnh, một tăng phòng làm trụ sở cho Khâm Thiên Giám. Năm 1887 phần lớn các ngôi nhà trong chùa đều bị triệt hạ...về sau, ngoài cổng La Thành xây thêm bốn trụ biểu.

Hiện nay, chùa chỉ còn chính điện, hai bên chính điện đặt Bát Bộ Kim Cang, phía sau có một nhà khách, một bếp. Sân ngoài có nhà bia, nhà chuông, ngoài cùng là cổng Tam Quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ Pháp.



Hình : skyscrapercity

Sunday, May 3, 2015

Chùa Từ Đàm - Ngôi danh lam xứ Huế

Du Lịch Huế - Chùa tọa lạc ở số 01 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mặt chùa hướng Đông Nam. Bên trái chùa, có chùa Linh Quang và đền thờ cụ Phan Bội Châu.



Cổng tam quan

Thiền thất được ngài Minh Hoằng - Tử Dung, vị Thiền sư Trung Hoa dựng vào cuối thế kỷ XVII (khoảng năm 1690) vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái, tại Hoàng Long Sơn, đặt tên là Ấn Tôn với ý nghĩa lấy sự truyền tâm làm tông chỉ. Năm 1703, chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong cho chùa là Sắc tứ Ấn Tôn Tự. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị sắc chỉ đổi tên “Từ Đàm Tự” tức đám mây lành, tượng trưng cho đức Phật, cho ngôi chùa Việt Nam.

Năm 1699, ngài Liễu Quán đã đến cầu học tham thiền với Thiền sư Minh Hoằng - Tử Dung. Ngài đã trình kệ "Dục Phật" (tắm Phật) được Tổ ấn khả, truyền tâm ấn trong kỳ an cư kiết hạ năm Nhâm Thìn (1712).



Chùa Từ Đàm (xưa) trước khi xây mới

Từ một ngôi chùa cổ kính của Thiền phái Lâm Tế, chùa Từ Đàm được xây dựng làm chùa Hội quán Tỉnh hội Phật giáo. Từ những năm 1920, phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam được phát triển ở cả ba miền. Tại Huế, An Nam Phật học hội thành lập vào năm 1932 do các vị cao tăng thạc đức, cư sĩ lãnh đạo như các ngài Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, cụ Nguyễn Khoa Tân, cụ Nguyễn Đình Hòa … Năm 1936, chư sơn môn đồng thuận giao chùa cho Hội để làm nơi thờ phụng và làm trụ sở của Hội. Ngày 18-12-1938, Tỉnh hội Phật học Thừa Thiên đã xây chùa Hội quán trên nền cũ chùa Từ Đàm, giảng đường, nhà tăng và một số căn nhà làm việc của Tỉnh hội.

Ngôi chùa cũ có nhà tiền đường, mái ngói, ba gian, rộng 7,4m, dài 18m. Gian trong cùng thờ tượng đức Phật Thích Ca ngự trên tòa sen, tay bắt ấn Tam muội. Tượng bằng đồng, cao khoảng 1,30m, do hai ông Nguyễn Khoa Toàn và Nguyễn Hữu Tuân thực hiện năm 1940. Hai bên tượng treo hai tràng phan, một bên đề danh hiệu 7 đức Phật ở Ta Bà, một bên đề danh hiệu 7 đức Phật ở Tịnh Độ. Trên vòng cung trước bàn thờ treo tấm hoành sơn son thếp vàng giữa có ba chữ Hán “Ấn Tôn Tự”, phía trái có mấy chữ Thiên Vận Quý Mùi (1703) Sơ Xuân Cát Đán. Đối diện bức hoành trên là một bức hoành giữa đề bốn chữ “Huệ Nhật Trung Thiên”.



Cây Bồ đề

Cổng tam quan chùa được xây dựng năm 1965, phía trong là cội Bồ đề.

Cây Bồ đề này có nguồn từ cây Bồ đề chính tại Ấn Độ, nơi đức Phật Thích Ca thành đạo quả vô thượng giác, đã được nhà sư Mahinda (nguyên thái tử, con vua A Dục) đem giống sang trồng tại Srilanca (Tích Lan) khi qua truyền đạo tại đây vào thế kỷ III trước Tây Lịch. Trưởng lão Narada, người Tích Lan, lấy giống từ cây Bồ đề ở Tích Lan cùng bà Karpelès trong phái đoàn Phật giáo Campuchia tặng Hội Phật học Trung phần và trồng tại đây trong dịp sang thăm Huế năm 1939.

Mặt tiền chùa Từ Đàm xưa

Năm 1951, chùa là nơi tổ chức Hội nghị 51 đại biểu của 6 tập đoàn Tăng già và Cư sĩ ở 3 miền thành lập Hội Phật giáo Việt Nam và phê chuẩn việc Hòa thượng Tố Liên thay mặt Hội Phật giáo Việt Nam ký tên gia nhập Hội Phật giáo thế giới. Bài hát nổi tiếng "Từ Đàm quê hương tôi" của Nguyên Thông đã có nói đến sự kiện quan trọng này : "Ôi ! anh linh bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối nguồn Đạo Vàng ... Từ Đàm ơi ! "

Trong bài viết "Vai trò và vị trí chùa Từ Đàm đối với Phật giáo xứ Huế và miền Trung", Tỳ kheo Thích Hải Ấn cho biết từ năm 1940 ở Huế đã có Ban Đồng Ấu rồi có Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục của bác sĩ Lê Đình Thám lập ra, tụ hôi được nhiều phần tử trí thức tân học thời đó để dạy Phật pháp cho họ. Năm 1943, Gia đình Phật Hóa Phổ ra đời, đến năm 1951, đổi thành Gia đình Phật tử, đặt trụ sở tại chùa Từ Đàm và lan rộng tới cả miền Bắc và miền Nam.

Chùa Từ Đàm (xây dựng vào năm 2007)

Ngày 04-7-2006, chùa đã tổ chức tái thiết ngôi chánh điện với chiều dài 42m, chiều ngang 35,9m gồm hai phần, dưới là tầng hầm dùng làm hội trường, trên là ngôi chánh điện, kiến trúc theo mô hình trùng thiềm điệp ốc, ba gian hai chái, kiểu kiến trúc truyền thống của chùa Huế. Đại lễ An vị Phật đã được tổ chức trọng thể vào ngày 24-12-2007 (ngày rằm tháng 11 năm Đinh Hợi).

Chùa Từ Đàm ngày nay là một ngôi già lam tráng lệ. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ tượng đức Phật Thích Ca, hai bên có phù điêu hai vị Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền. Chùa có nhiều hoành phi và câu đối. Xin trích 3 cặp đối do Tỳ kheo trụ trì Thích Hải Ấn ghi lại và dịch nghĩa :

1. Trước hiên chùa, cặp đối do bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám soạn :

Phật chính biến tri, vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức.

Học chân thật nghĩa, như thị văn, như thị tư, như thị tu trì.

佛正遍知無量壽無量光無量功德

學真實義如是聞如是思如是修持

Nghĩa:

Phật là bậc Chánh Biến tri, Vô lượng thọ, Vô lượng quang, Vô lượng công đức.

Học theo nghĩa chân thật, nghe như vậy, tư như vậy, tu trì như vậy.

2. Trước hiên chùa, cặp đối do cụ Phan Bội Châu tặng :

Bát-nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;

Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.

般若本無言¾離£四句絕百非đ?化隨緣說無量無邊妙法

菩ì提?先?有願證š?O明具?眼俱圓福?果?¬大—大?Í慈?尊

Nghĩa: Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên;

Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tựu thành quả phúc, thành từ tôn đại hùng, đại lực.

3. Trong điện Phật, cặp đối của cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu soạn :

Bát-nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;

Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.

般若本無言¾離£四句絕百非đ?化隨緣說無量無邊妙法

菩ì提?先?有願證š?O明具?眼俱圓福?果?¬大—大?Í慈?尊

Nghĩa:

Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên;

Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tựu thành quả phúc, thành từ tôn đại hùng, đại lực.

Chùa hiện đặt Văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế. Những ngày đại lễ của Phật giáo hằng năm như kỷ niệm ngày Phật đản, lễ Vu Lan, lễ Phật Thành đạo ... và nhiều hoạt động Phật sự khác ở Huế đều được tổ chức trọng thể tại chùa.

Nhân ngày vía đức Thích Ca xuất gia 08-02 Mậu Tý (2008), Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã tổ chức Giới đàn Từ Đàm do Hòa thượng Thích Đức Phương làm Đàn đầu Hòa thượng truyền trao giới pháp cho giới tử xuất gia : Sa di (112 giới tử), Sa di ni (65 giới tử), Thức xoa (77 giới tử); giới tử tại gia có 620 giới tử Thập thiện và 70 giới tử thọ Bồ tát giới.

Báo Giác Ngộ online và nhiều website thường xuyên thông tin những hoat động ở chùa như : Ngày 29-5-2007, gần 200 Tăng Ni của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế và đoàn sinh gia đình Phật tử Huế đã tham gia hiến máu nhân đạo; từ ngày 01 đến ngày 07-3-2008, lần đầu tiên, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh và tạp chí Văn hóa Phật giáo phối hợp tổ chức Tuần Văn hóa Phật giáo với nhiều hoạt động văn hóa và sinh hoạt trao đổi tri thức diễn ra liên tục trong một tuần lễ tại chùa v.v...

Chùa thường xuyên đón tiếp chư vị Tôn đức lãnh đạo Phật giáo các nước, chư vị học giả, trí thức và nhiều đoàn du khách, Phật tử trong nước, nước ngoài đến thăm, lễ Phật.

Điện Phật chùa Từ Đàm xưa



Mặt tiền chùa

Điện Phật



Phù điêu Bồ tát Văn Thù



Tổ đường



Đại hồng chung



Trang trí nóc chùa



Lễ đài Phật đản



Tượng bán thân cố bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám



Ảnh cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu

Bài và ảnh: Võ Văn Tường

Bình An Đường - Điểm du lịch mới ở Huế

Du Lịch Huế - Đến đất Huế, ai cũng nghĩ tới Đại Nội, các lăng tẩm, hay chùa Thiên Mụ. Nhưng từ tháng 3 năm nay, có một điểm tham quan mới được đưa vào danh sách đó là Bình An Đường

Đây là di tích duy nhất còn sót lại sau chiến tranh phần nào liên quan tới cuộc sống của các cung tần mỹ nữ triều Nguyễn. Tới Bình An Đường, du khách được sống trong hoài cổ về một thời quá vãng qua chén trà cung đình thơm dịu, qua những bức hình nhuốm màu thời gian, qua tủ thuốc đông y chữa bệnh cho phi tần cung nữ xưa...

Bình An Đường được dựng lên từ năm Minh Mệnh thứ 4(1823) ở phía tả hoàng thành. Đến năm Tự Đức thứ 11(1858), di tích này được chuyển đến Bắc hoàng thành. Hiện Bình An Đường nằm ở số 1 Đặng Thái Thân, thuộc phường Thuận Thành.

Tham quan Bình An Đường, du khách được biết đến một số loại dược phẩm truyền thống như rượu Minh Mạng, rượu thuốc Minh Mạng, trà cung đình… và những hình ảnh, hiện vật, các bài thuốc Đông y… liên quan đến đời sống các cung nữ xưa cũng như Thái y viện triều Nguyễn.

Đến Bình An Đường, du khách vừa được tìm hiểu về lịch sử, vừa được thưởng thức trà cung đình, trà hoa viên cùng các thức uống khác trong không gian xưa mang lối kiến trúc phương đình, 1 gian 4 chái với khung gỗ, mái ngói tường gạch. Tại đây, vào tối thứ 3 hàng tuần, Bình An Đường còn tổ chức giao lưu âm nhạc “ Tình ca đi cùng năm tháng”. Hương thơm thanh cao của trà sen, trà lan hay trà Quý Phi, trà Mỹ nữ nhẹ tỏa trong âm hưởng những khúc tình ca sâu lắng khiến lòng người vô cùng thư thái.

Bình An Đường có khoảng sân vườn đẹp, thoáng mát, một chút hiện đại trong sự trầm mặc cổ kính của di tích xưa mang lại nhiều cảm giác thú vị cho khách tham quan. Bình An Đường nhất định là điểm đến thú vị của những du khách hoài cổ.

Saturday, May 2, 2015

Ngọ Môn

Du Lịch Huế - Ngọ Môn là cổng chính, “cổng phía nam” của Hoàng thành được xây dựng vào năm 1833, dưới triều vua Minh Mạng.

Ngọ Môn không phải chỉ là một cái cổng đơn thuần mà là cả một tổng thể kiến trúc phức tạp: trên nền cổng còn có lầu Ngũ Phụng với chức năng như một lễ đài, dùng để tổ chức một số cuộc lễ trọng thể hàng năm của triều đình như lễ duyệt binh, lễ đọc tên các sĩ tử thi đỗ tiến sĩ, lễ Ban Sóc (phát lịch)… Và đây cũng là nơi diễn ra cuộc lễ thoái vị của vua Bảo Đại – vị vua cuối cùng của Việt Nam vào ngày 30-8-1945.

Về mặt kiến trúc có thể chia tổng thể Ngọ Môn ra làm 2 hệ thống: hện thống nền đài ở dưới và hệ thoosngg lầu Ngũ Phụng ở trên, mặc dù cả hai đều được thiết kế ăn khớp nhau một cách chặt chẽ và hài hòa từ tổng thể đến chi tiết. Nền đài cao gần 5m, đáy dài 57,77, gần như là một sự tiếp nối của dãy thành, nhưng chiều ngang được bố trí hơi phình to hơn, nhất là hai cánh ngoài được nhô ra tạo nên mặt bằng hình chữ U, cánh dài 27,06m. Việc nhô ra đã tạo sự bề thế, vóc dáng đồ sộ chung cho cả công trình, đồng thời giúp cho người lính canh có thể kiểm soát mặt ngoài thành một cách dễ dàng.

Nền đài dày và cao, được cấu trúc theo kiểu “thượng thu hạ thách” với độ dốc gần như thẳng đứng, tạo nên một thế đứng hơi choãi chân rất bền vững mà vân gay được cảm giác sừng sững. Ơ phần giữa của nền đài trổ ba cửa đi song song: Ngọ Môn, dành cho Vua đi, Tả Giáp môn (cửa bên trái) và Hữu Giáp môn (cửa bên phải) dành cho các quan văn, võ theo hầu trong đoàn Ngự đạo. Ơ trong làng mỗi cánh chữ U còn trổ một lối đi như đường ham chạy xuyên suốt từ trong ra ngoài, rồi bẻ thẳng góc vào phía đường Dũng đạo. Hai lối này được gọi là Tả dịch môn và Hữu dịch môn, dành cho lính tráng và voi ngựa theo hầu trong đoàn Ngự đạo. Ơ phần trên của 5 cửa này đều xây cuốn thành vòm cao nhưng riêng ở hai đầu 3 cửa đi giữa thì có gia cố thêm hệ thống xà ngang và xà dọc bằng đồng thau. Các đường xà này được bọc thêm một lớp đồng lá dát mỏng để tạo thêm vẻ thẩm mỹ.

Vật liệu chính để xây dựng nền đài là gạch vồ và đá thanh. Gạch ở đây mỏng và có độ nung cao, được xây với những mạch vữa rất mỏng lại để trơn tạo ra những bờ tường phẳng. Các tảng đá xanh cũng được gia công ghè đẽo một cách vuông vắn, lắp ghép thành những điểm chạy viền quanh cổng và điểm chân nhằm làm tăng thêm vẻ đẹp và độ bền vững cho công trình. Phía trong nền đài có hai hệ thống bậc cấp xây bằng đá thanh ở hai bên, nằm lộ thiên nhưng rất kín đáo. Quanh trên nền đài là hệ thống tường hoa lan can được trang trí bằng nhiều kiểu gạch hoa đúc rỗng tráng men ngũ sắc.



Ngọ Môn xưa (năm 1937)

Lầu Ngũ Phụng trên nền đài có hai tầng, tầng dưới lớn, tầng trên nhỏ, với 13 gian kết cấu thành một bộ khung cũng theo hình chữ U như nền đài. Tuy cùng chung một bộ khung sườn làm bằng gỗ lim, nhưng ở phần trên lại tách ra thành 9 bộ mái riêng biệt, to nhỏ, cao thấp khác nhau, tạo nên sự nhấp nhô của các hình khối trong không gian như những hình chim phụng đang bay. Vì vậy, dân gian gọi là lầu Ngũ Phụng. Mái lầu lợp ngói tráng men vàng và xanh lá cây, gọi là ngói hoàng lưu ly và ngói thanh lưu ly. Ngói lợp theo kiểu âm dương.

Lầu Ngũ Phụng có tới 100 cột, trong đó 48 cột dài suốt cả hai tầng. Quanh các phía tầng dưới đều để trống chỉ trừ tòa nhà chính giữa là có hệ thống cửa gương ở mặt trước, dựng đố bản ở hai bên mặt sau nơi vua thường ngồi dự lễ. Tầng trên thì mặt trước nhà giữa dựng cửa lá sách, chung quanh nong ván nhưng trổ nhiều cửa sổ với những hình khác nhau như hình tròn, hình quạt, hình cái khánh…

Vì xung quanh mặt trên của nền đài có lan can và tầng dưới lầu Ngũ Phụng để trống, mái hiên lại ngắn, nên người ta đã xây thêm một nền lâu đài lồi cao 1,11m để vừa tôn cao lầu lên, vừa tránh được mưa gió tạt vào trong lòng lầu…

Trang trí Ngọ Môn rất được coi trọng. Những ngói ống đều tráng men và có in các hoa văn ở phía diềm mái. Đáng chú ý là những hình trang trí dơi ngậm tiền, bướm và rồng cách điệu, được ghép bằng những mảnh sứ màu. Nghệ nhân thời bấy giờ đã cố gắng mài giũa và chọn lọc màu sắc sao cho vừa khớp, lại hòa nhập vào toàn bộ khung cảnh, công việc được tiến hành một cách công phu, tỉ mỉ và có sự cân nhắc tính toán, do vậy những hình trang trí này nổi lên rất đẹp.

Một số trang trí gỗ trên các lan can cũng được các nghệ nhân đặc biệt chú ý. Hoa lá hình bát bửu là những đề tài được thể hiện ở đây. Chúng được làm tường đối đơn giản, không cầu kỳ, rối rắm nhưng lại thanh thoát, đẹp mắt, bảo đảm tính mỹ thuật cao.



Ngọ môn ngày nay

Ngọ Môn là một tổng thể kiến trúc có vóc dáng đồ sộ, nguy nga và thuộc vào những kiến trúc cao nhất của Hoàng thành (cả 3 tầng cao tới 14,80m). Dáng cao lớn và đẹp đẽ của nó tạo nên sự đột biến trong không gian, gây sự chú ý của mọi người khi đến thăm kinh thành Huế. Tuy dáng dấp có mô phỏng ít nhiều hình dáng của Thiên An Môn (Trung Quốc), vì trước khi thiết kế xây dựng vua Minh Mạng đã cho người sang tham quan Thiên An Môn; nhưng khi tiếp cận, chúng ta thấy các kiến trúc sư thời Minh Mạng đã có tinh thần sáng tạo và tay nghề cao trong việc thiết kế và trang tri. Do vậy, Ngọ Môn trở thành một công trình kiến trúc xinh xắn, đáng yêu, gần gũi với phong cảnh thiên nhiên và tình cảm, tâm hồn của người dân đất Việt nói chung và xứ Huế nói riêng.