Thursday, April 30, 2015

Đàn Nam Giao

Du Lịch Huế - Nhắc tới đàn Nam Giao tại Việt Nam, ai cũng nghĩ ngay đàn tế trời của vương triều Nhà Nguyễn ở Huế. Mà kể cũng đúng thôi, bởi lẽ đây là đàn tế trời duy nhất còn nguyên vẹn không chỉ ở Việt nam mà ở cả Đông Dương. Đàn Nam Giao được xây dựng vào năm 1806 duới thời vua Gia Long, cách kinh thành Huế khoảng 4km về phía Nam, là nơi nhà vua làm Lễ tế trời.

Đây là công trình lộ thiên được khởi tạo vào mùa xuân Bính Dần (25-3-1806) do thợ và lính thuộc Bộ Công và Bộ Binh thực hiện dưới sự chỉ huy của Chưởng quân Phạm Văn Nhơn cùng Đô thống Trần Văn Năng. Đầu năm Đinh Mão 1807, triều Nguyễn đã tổ chức lễ tế trời tại nơi này.

Về cấu trúc đàn Nam Giao triều Nguyễn gồm ba tầng, quay mặt về hướng Nam. Tầng thứ nhất hình vuông, màu đỏ, tượng trưng cho người. Tầng thứ hai cũng hình vuông, gọi là Phương đàn, màu vàng, tượng trưng cho đất. Tầng thứ ba hình tròn, gọi là Viên đàn, màu xanh, tượng trưng cho trời. Kiểu kiến trúc này phản ánh quan niệm về vũ trụ trong văn hóa phương Đông: Thuyết Tam tài (Thiên, Địa, Nhân); Thiên thanh, địa hoàng; Trời tròn, đất vuông.
Viên đàn (hình tròn) có 5 án thờ : án chính giữa thờ trời và đất ; các án xung quanh thờ chúa Nguyễn Hoàng, các vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Viên đàn cao 2,75m; chu vi hơn 127m, tô màu xanh, bốn mặt có thềm: phía nam có 15 bậc; đông, tây, bắc đều có 9 bậc.
Phương đàn (hình vuông) tên khác là Tùng đàn, có 8 án thờ, phía tả gồm 4 án thờ thần Đại minh (mặt trời), án thứ nhì thờ các vì sao trong bầu trời, án thứ ba thờ thần mây, thần mưa, thần gió và thần sấm, án thứ tư thờ thần Thái tuế (thần các năm) và thần Nguyệt tướng (thần các tháng); phía hữu, án thứ nhất thờ thần Dạ minh (mặt trăng); án thứ nhì thờ thần núi, thần biển, thần sông và thần chằm (đầm phá), thần các núi Triệu Tường, Khải Vận, Hưng Nghiệp và Thiên Thụ (bốn “linh sơn” là nơi táng các vị tiên vương, tiên đế vừa kể); án thứ ba thờ thần giữ lăng tẩm và phần mộ; án thứ tư thờ các thần kỳ trong nước. Đàn cao xấp xỉ 1m, vuông mỗi cạnh hiện đo được 83m, suy ra diện tích 6.889m², bốn mặt thềm đều 5 bậc.
Tầng thấp nhất cao 0,84m, vuông mỗi cạnh 165m, suy ra diện tích hơn 27.225m², bốn mặt thềm đều 4 bậc. Góc đông nam là lò chứa củi, góc tây bắc là huyệt chôn máu và lông các con vật hiến tế.
Khuôn viên đàn Nam Giao vốn được phân định bởi tường rào hình chữ nhật, bốn mặt có trổ cổng và chắn trước từng cổng là bức bình phong. Mỗi bình phong rộng 12,5m, cao 3,2m, dày 0,8m, được xây bằng đá, nay chỉ còn ba bức ở các phía đông, nam, tây. Tường cũng được xây bằng đá, bị triệt phá từ lâu. Bên ngoài khuôn viên, thuở xưa còn có nhiều hạng mục công trình phục vụ tế Giao được xây kiên cố bằng vôi gạch hoặc dựng tạm thời bằng tranh tre, bao gồm: Trai cung (nơi vua giữ mình trong sạch trước khi tế Giao), Thần trù (nhà bếp), Thần khố (nhà kho), Quan cư (nhà dành cho các quan tạm trú), Khoản tiếp (nhà đón khách nước ngoài). Các hạng mục trên hiện nay chỉ còn Trai cung là còn nguyên vẹn.
Trong lẫn ngoài khuôn viên Nam Giao, xưa kia xanh rậm một rừng thông, loài cây tượng trưng người quân tử. Từ khởi công xây dựng đàn Nam Giao, vua Gia Long đã ra lệnh “trồng cây gây rừng” quanh công trình được xem vĩ đại và uy nghiêm. Thoạt tiên là trồng cụm thông về hướng nam, phía trong tường rào, biểu thị cho bậc khôn ngoan tài trí đã kiên nhẫn nếm mật nằm gai và dũng cảm vào sinh ra tử mà sáng lập vương triều. Xung quanh là các cây thông, mỗi cây đều gắn một tấm biển nhỏ bằng đồng hay bằng đá khắc tên từng vị khai quốc công thần. Mùa xuân Giáp Ngọ 1834, đến Trai cung chuẩn bị tế Giao, Minh Mạng đích thân trồng 10 cây thông rồi tự tay buộc biển đồng có khắc bài minh do vua ngự chế. Vua Thiệu Trị nối ngôi cũng noi gương, trồng 11 cây thông như thế. Hàng ngũ hoàng thân quốc thích cũng như đại thần được vinh dự trồng mỗi người một cây thông quanh đàn Nam Giao, trên cây có buộc thẻ bài khắc họ tên mình. Đến đời Tự Đức, quyền được trồng thông tại khu vực Nam Giao nới rộng tới quan văn tứ phẩm lẫn quan võ tam phẩm. Rừng thông Nam Giao vì vậy cũng mở rộng, lấn dần sang phần đất sau Trai cung, vượt khỏi giới hạn tường rào cả quãng xa. Tính đến năm Ất Dậu 1885, tức từ đời vua Hàm Nghi trở về trước, mỗi quan lại vào triều diện kiến đức vua để được thăng chức, nâng bậc, ngay sau đó phải lên Nam Giao tự tay trồng một cây thông với sự chứng kiến của phái đoàn đặc biệt gồm các thành viên đại diện Bộ Lễ và Bộ Công.


Rừng thông quanh Đàn Nam Giao

Dưới triều Nguyễn, lễ tế trời được cử hành tại đàn Nam Giao vào trung tuần tháng hai hàng năm. Trước triều vua Thành Thái, lễ được tổ chức một năm hoặc hai năm một lần. Đến năm Thành Thái thứ 2 (1890), ba năm tế một lần. Thời vua Bảo Đại, Lễ tế trời rút lại chỉ còn một ngày.

Rước Vua ra từ điện Thái Hòa

Trước 1 ngày, bắt đầu từ canh 5, Cấm binh cờ xí, giáo mác đầy đủ, dàn bọc xung quanh đàn cả trong lẫn ngoài và các nhà Thần trù, Thần khố, Trai cung. Lính của các quân bộ Binh xếp hàng nghiêm ngặt hai bên con đường xa giá của nhà vua đi qua, kéo dài từ trong Đại Nội đến bến Phu Văn Lâu, qua bến đò bờ nam sông Hương ở xã Dương Xuân, cho tới tận đàn Nam Giao. Đồng thời kỳ lão 6 huyện thuộc phủ Thừa Thiên bày hương án hai bên đường từ bến đò bờ nam đó cho tới tận đàn sở, họ phải quỳ đón và quỳ tiễn xa giá của vua cho đến khi nhà vua yên vị tại Trai Cung.

Quang cảnh rước Vua đến Trai cung

Từ Festival Huế 2004, đã bắt đầu tái hiện lại cảnh lễ tế Đàn Nam Giao, nhưng không tái hiện lại lễ tế, chỉ tái hiện quang cảnh đoàn Ngự đạo hồi cung, không có vua. Festival Huế 2006 là festival đầu tiên tái hiện lại toàn cảnh lễ tế Đàn Nam giao, có cả “Vua” làm chủ tế.
Xung quanh việc tìm người làm “Vua” cũng là một vấn đề khá lý thú. Ngày xưa Vua được coi là Thiên tử - là con trời, thay trời trị dân nên đích thân nhà vua phải đứng làm chủ tế để chứng tỏ hiếu nghĩa của một người làm con. “Vua” làm lễ tế, tuyên đọc chúc văn gửi trời đất, thần linh, cầu mong quốc thái dân an. Người dân Huế trang nghiêm thắp nén nhang lên bàn thờ gia tiên khi “vua” tế trời. Thế nhưng tìm người đóng vai vua lúc ấy là điều không dễ. Khó bởi lẽ ai cũng ngại, vì tương truyền, ngày trước có hai lần vua triều Nguyễn “long thể bất an” nên triều đình đã cử hai vị đại thần thay vua tế Nam Giao. Hai vị đại thần này sau đó đều chết một cách khó hiểu (?!). Một chuyện khác, có đoàn làm phim từ Hà Nội vào Điện Thái Hòa, nơi vua thiết triều xưa, để quay chiếc ngai vàng. Ở nơi linh thiêng mà nhiều người trong đoàn mặc quần cộc, áo may ô... Sau khi cắm điện, bấm máy hoài mà đèn không sáng. Nhà văn hóa Huế Mai Khắc Ứng hiểu ngay chuyện, liền chạy đi mua một thẻ nhang, hoa, chuối vào thắp lên khấn, thế là đèn sáng ngay (!). Các diễn viên sợ đóng vai vua là vì thế.

Nghệ sĩ đóng vai Vua trong lễ tế

Trước tình hình đó, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã họp và quyết định giao nhiệm vụ này cho đạo diễn - NSƯT Ngọc Bình. Quyết định do Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký tên, đóng dấu hẳn hoi. Lần đầu tiên trong lịch sử sân khấu Việt Nam đã diễn ra chuyện rất hy hữu : Diễn viên đóng vai vua phải có quyết định của chính quyền!
Cầm quyết định, Ngọc Bình rất lo âu. Dù là đạo diễn, diễn viên giỏi, nhưng anh chỉ đóng vai vua trên sân khấu, còn bây giờ là vua ở lễ tế Giao Đàn, nếu có gì thất thố về tâm linh, không khéo mang vạ. Nhưng vì cấp trên đã tin tưởng giao phó, Ngọc Bình nghĩ mình phải cố gắng làm tròn trách nhiệm. Sau Tết hai vợ chồng Ngọc Bình lặng lẽ sắm lễ vật, vào Thế Miếu dâng cúng, cầu xin tiên đế cho Ngọc Bình được đóng vai vua và đêm trước khi diễn ra lễ hội, vợ chồng Ngọc Bình lại sắm lễ vật, lên đàn Nam Giao cúng cầu trời đất. Ngày xưa, trước khi tế Nam Giao, vua phải trai giới 3 tháng 10 ngày ở Trai Cung để “dọn” sạch mình. Vì thế, Ngọc Bình cũng bắt đầu “chay tịnh” cho đến ngày tế đàn. Với quyết tâm ấy, trong buổi chiều đoàn ngự đạo xuất cung, mọi người đã thấy một thần thái uy nghiêm của một vị vua thật sự trước khi hành lễ. Với diện mạo, cử chỉ thành kính lúc tấu sớ, “vua” Ngọc Bình đã làm cho tất cả những người có mặt tại đàn Nam Giao phải nín thở. Lễ tế lần ấy đã thành công nhờ sự nhập vai xuất sắc của Ngọc Bình. Sau lần làm “Vua” ấy cho đến nay, gia đình NSƯT Ngọc Bình vẫn luôn gặp nhiều điều may mắn, và mỗi kỳ Festival, khi chuẩn bị cho lễ tế Nam Giao, cái tên Ngọc Bình luôn được nhắc tới.
Festival Huế 2010 đã cận kề, trong festival lần này Lễ Tế Giao sẽ tiếp tục duy trì trên cơ sở nâng cao tính nghệ thuật và sự trang nghiêm của lễ hội. Hy vọng đó sẽ là một lễ hội hoành tráng, hấp dẫn và mang đậm nét nhân văn độc đáo của vùng đất Cố đô.

Một số hình ảnh lễ tế Nam giao xưa (năm 1935) :


Lễ Nam Giao - Đám rước qua Ngọ Môn (1935)


Lê Nam giao - Đám rước qua Vọng lâu cửa Ngăn (1935)


Đoàn Ngự đạo trước cửa Ngọ Môn


Lê Nam giao - Long tượng dẫn đầu đám rước (1935)


Lễ Nam Giao - Đám rước tới Trai cung (1935)


Các bệ thờ ở Đàn Nam Giao (1935)


Đoàn long tượng trước Trai cung

Đoàn Ngự đạo trở về

Nguyễn Văn Liêm

Tuesday, April 28, 2015

Đường của ông hoàng, bà chúa

Du Lịch Huế - Không phải ngẫu nhiên mà Tùng Thiện vương Miên Thẩm (1819-1870), con trai thứ mười của Hoàng đế Minh Mạng đã chọn một địa điểm nằm trên đường Phan Đình Phùng ngày nay để dựng phủ với cái tên gọi đầy ngọt ngào “Phương Thôn thảo đường”. Ông Hoàng này cùng với bào đệ Tuy Lý Vương là hai nhà thơ nổi tiếng của triều Nguyễn.



Đến nỗi, vua Tự Đức vốn kiêu ngạo cũng phải khâm phục và có thơ khen hai ông chú đã thành ca dao:“Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường”. Tạm hiểu, làm thơ được như của Tùng Thiện, Tuy Lý thì thơ của thời Đường cũng không còn đáng kể.



Ngay sau khi mới lên ngôi, vua Gia Long đã khởi sự đào sông An Cựu và cùng thời với con sông đào nổi tiếng bởi nguồn lợi và vẻ đẹp lạ lùng đó là sự hình thành nên con đường Phan Chu Trinh ở phía bên kia và bên này là Phan Đình Phùng. Cho dù mãi tận hàng chục năm sau nhưng người Pháp đã rất có lý khi gọi đó là đường bờ sông De la Suisse (Thụy Sĩ). Con đường quanh co, chạy dọc theo dòng sông trong xanh và uốn lượn, tô điểm bởi những hàng cây soi bóng và những chiếc cầu nhỏ bắc qua như những điểm xuyết đẹp, được hình thành bởi những ý tưởng tuyệt vời của chính những nhà thiết kế quy hoạch thời bấy giờ, làm nao lòng bao tâm hồn, ngập tràn bao xúc cảm, đặc biệt là những bậc thi nhân nổi tiếng như Tùng Thiện Vương.

Phủ Tùng Thiện Vương trên đường Phan Đình Phùng. Ảnh: Minh Phương

Cùng với “Phương Thôn thảo đường” là hàng loạt những dinh thự của các ông hoàng bà chúa, quan lại, hoàng thân quốc thích khiến cho ai đó đã phải thốt lên, đường Phan Đình Phùng là “con đường phủ đệ”. Từ phía trên này, nơi giao lộ giữa đường Phan Đình Phùng và Điện Biên Phủ, bắt đầu là Lạc Tịnh Viên, phủ do Đông Các Đại học sỹ Hồng Khẩn, con trai của Tùng Thiện vương xây năm 1889. Tiếp theo phủ Tùng Thiện vương là biệt thự của Từ Cung Đoan Huy hoàng thái hậu. Rồi đến phủ và tẩm thờ Ngọc Lâm công chúa, trưởng nữ của vua Đồng Khánh; biệt thự riêng của Hoàng Tùng đệ Vĩnh Cẩn, em họ thân tín của Cựu hoàng Bảo Đại.



Thêm một địa chỉ gợi nhớ đến thời kỳ mất nước vào cuối thế kỷ 19 là phủ Kiên Thái vương Hồng Cai, con trai thứ hai mươi sáu của vua Thiệu Trị, là thân phụ của ba vị hoàng đế lần lượt là Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh. Lưu truyền hàng trăm năm nay là câu vè “Một nhà sinh đặng ba con. Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài”. Và “hàng xóm” của phủ Kiên Thái vương là cung An Định nổi tiếng, do Hoàng đế Khải Định xây dựng từ thời còn là Hoàng tử Phụng hoá Bửu Đảo. Kế cận là nhà thờ thân mẫu vua Khải Định, phủ của An Hoá công Bửu Tửng, con vua Đồng Khánh và phủ của Bái Ân công chúa Nguyễn Phúc Lương Trinh, con vua Minh Mạng.



Đã hàng chục năm nay, hằng ngày tôi vẫn thường qua về trên con đường bờ sông Phan Đình Phùng. Mùa hè mát rượi và ngày đông coi chừng ngập nước lúc mưa lớn. Những ấn tượng đặc biệt về cổng phủ rêu phong với cửa đóng then cài và thấp thoáng bên trong là dinh thự nhà vườn Huế đặc trưng. Quy mô của những phủ đệ thậm chí còn nhỏ hơn cả những ngôi nhà rường của những người bình dân nhưng hấp dẫn, gợi bao tò mò bởi cuộc sống sinh hoạt và những con người cùng danh phận của một thời đã qua. Có lẽ cũng như tôi, có dịp ngang qua gợi lên từ trong sâu thẳm của bao người sẽ là những tò mò và khát khao khám phá về một thế giới xưa cũ nhưng lại là niềm tự hào một thời của Huế. Và tự dưng, tôi mơ về một tour du lịch thăm lại vương phủ xưa ở Huế mà một trong những điểm nhấn là đây, những dinh thự nằm bên dòng sông An Cựu “nắng đục mưa trong” để hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn về sinh hoạt và phong cách sống của những “mệ” Huế, từng làm tốn bao giấy mực của người đời xưa nay.

Theo ĐAN DUY

Monday, April 27, 2015

Làng hương Thủy Xuân khởi sắc

Du Lịch Huế - Đường Huyền Trân Công Chúa dẫn du khách vào khu di tích lăng vua Tự Đức, đồi Vọng Cảnh quanh năm rực rỡ bởi những bó chông hương đầy màu sắc được trưng bày công phu hai bên đường.

Tôi được tham gia cùng một đoàn du khách gồm 16 người đến từ Ý, Anh, Úc đi thăm lăng vua Tự Đức, đồi Vọng Cảnh. Khi đi ngang đường Huyền Trân Công Chúa, đoàn dừng lại thăm làng hương theo yêu cầu của du khách. Vừa xuống xe, du khách đã ồ lên trong sự ngạc nhiên khi trông thấy con đường phơi đầy hương, đủ các màu sắc. Mọi người dạo bước khắp đoạn đường để tham quan và nghe người hướng dẫn du lịch giới thiệu về hương, cách làm hương…

Hương được người dân trưng bày thành hoa

Du khách thích thú học làm hương

Mỗi ngày có khoảng 10-15 đoàn ghé thăm làng hương trên trục đường này. Anh Nguyễn Phước Kỳ, người hướng dẫn đoàn du khách, cho biết: “Tôi dẫn khách châu Âu đến thăm lăng Tự Đức và đồi Vọng Cảnh bao nhiêu lần thì ghé thăm làng hương này bấy nhiêu lần”.

Nhiều người dân ở Thủy Xuân thay đổi được cuộc sống nhờ làm du lịch này. Trước đây, người dân vùng này sống bằng nghề làm hương bán cho các đại lý quanh thành phố. Khoảng 7-8 năm lại đây, du lịch phát triển, du khách đi thăm lăng vua Tự Đức, đồi Vọng Cảnh ngày một nhiều. Làng hương Thủy Xuân lại nằm cửa ngõ của những điểm du lịch này, mỗi lần ngang qua du khách đều dừng chân ghé xem người dân làm hương và rất thích thú, dần dần nó thành điểm du lịch cho nhiều du khách châu Âu.

Nắm bắt cơ hội đó, người dân Thủy Xuân phát triển làng nghề truyền thống thành sản phẩm du lịch. Trước đây, hương chỉ có hai màu nâu và đỏ. Nhưng để bắt mắt du khách, những người thợ cần mẫn đã tìm cách phối thành nhiều màu để nhuộm chông. Từng bó chông hương với đủ loại màu sắc, xòe thành từng chùm, dựa vào nhau rồi tỏa ra như những đóa hoa và cứ thế níu chân không biết bao đoàn du khách.

Người dân ở đây cũng dần chuyên nghiệp hơn trong cách làm du lịch. Không chỉ có hương mà ở đây còn có hàng trăm mặt hàng lưu niệm khác cho du khách lựa chọn. Dọc đoạn đường này, có khoảng 15 quầy hàng du lịch, nhiều chủ cửa hàng biết chào mời khách bằng tiếng Anh. Chị Nguyễn Thị Ty, chủ một quầy hàng tâm sự: “Mỗi ngày có 2-3 đoàn ghé vào hàng, mua hàng thì có đoàn mua có đoàn không nhưng tham gia làm hương, làm nón thì đoàn nào cũng tham gia, có ngày lời 1-2 triệu đồng có ngày thì không lời đồng nào nhưng tụi chị vẫn luôn vui vẻ với khách”. Biết du khách châu Âu thích uống trà và mứt gừng ở Huế nên quán nào cũng bày sẵn trên bàn để mời khách. Thiết nghĩ, cần có sự hợp tác giữa các công ty du lịch và người dân ở đây, tạo cho họ cảm giác yên tâm trong làm du lịch, không còn phải thu nhập nhờ sự may rủi từ việc bán hàng cho du khách.

Theo Hải Thuận

Cầu ngói Thanh Toàn lặng lẽ trong chiều Huế

Du Lịch Huế - Đây là một trong ba cây cầu mái ngói ở Việt Nam được làm bằng gỗ theo lối “thượng gia, hạ kiều”.

Cầu ngói Thanh Toàn (thuộc làng Thanh Thủy, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy) cùng với cầu ngói Kim Sơn (Ninh Bình) và cầu ngói Hải Hậu (Nam Định) đã từng được Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế chọn để phát hành bộ tem đặc biệt “Cầu mái ngói” nhân dịp Festival Huế 2012.

Những du khách lần đầu đến Huế thường thăm quan những điểm du lịch nổi tiếng trong thành phố Huế như Đại Nội, Lăng Khải Định, chùa Thiên Mụ… mà bỏ qua di tích quốc gia đáng chiêm ngưỡng ở vùng ngoại ô này. Cầu ngói Thanh Toàn cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7-8 km về phía Đông Nam. Đường đến đây khá nhỏ nên khách thăm quan chỉ có thể đi vào bằng xe máy hoặc thuê xe đạp.



Cầu ngói Thanh Toàn là di tích cấp quốc gia được xây dựng theo lối “Thượng gia, hạ kiều” (trên nhà, dưới cầu). Cầu được làm bằng gỗ, bên trên có mái ngói che. Hai bên thành cầu có bục để ngồi và có lan can thành cầu.

Mái ngói được ốp sành, sứ. Đây là cách trang trí phổ biến trên các lăng tẩm, đình chùa tại Huế.



Dù đã được trùng tu khá nhiều lần nhưng cầu vẫn còn giữ nguyên được kiến trúc và giá trị văn hóa vốn có của nó.



Câu cầu ngói nằm trong một quần thể di tích gồm đền thờ họ, chùa, đình… Ngay bên cạnh là Nhà nông cụ, trưng bày các dụng cụ nông nghiệp và đồ dùng sinh hoạt của người dân ở đây.



Ngay trước mặt cầu ngói là khu chợ Thanh Toàn. Khu chợ vẫn giữ được nhiều nét cổ kính, trầm mặc đặc trưng của Huế./.

Theo CTV Hương Thảo

Làng đúc đồng Dương Xuân

Du Lịch Huế - * Địa điểm: Làng Dương Xuân ở ngay hữu ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố về phía tây chừng 4 cây số, hầu hết dân làng làm nghề đúc đồng, nên từ lâu quen gọi là phường Đúc (hay phường Thợ Đúc).

* Hình thành: Theo gia phả và cả truyền miệng thì dân Dương Xuân có quê gốc ở Bắc Ninh và Thanh Hóa, tổ tiên họ vào đây từ thời các chúa Nguyễn và tiếp tục trong thời Nguyễn. Cũng có tài liệu nói thợ đúc đồng Đại Việt từ thời Trần đã theo công chúa Huyền Trân vào đây. Đồ đồng hiện còn ở Huế có nhiều hiện vật nổi tiếng được đúc vào nửa sau thế kỷ XVII, có ghi niên đại vua Lê và mang nhiều họa tiết trang trí ngoài Bắc đương thời, chắc chắn là sản phẩm của những thợ thủ công từ Đàng Ngoài mới vào. Nhiều đợt di cư đi tìm cuộc sống ở phía Nam, có thể có cả những thợ đúc đồng vào đây. Đặc biệt khi Huế thành kinh đô, nhà Nguyễn trưng tập thợ khéo cả nước về đây làm những đồ cao cấp, chắc hẳn có cả thợ đúc đồng ngoài Bắc, khi hết hạn phục vụ họ ở lại Huế bổ sung cho phường Đúc. Bằng những nguồn trên, làng đồng Dương Xuân – phường Đúc ngày nay càng phát triển.

* Đặc điểm: Chỉ kể những vật phẩm nghệ thuật lớn và có niên đại chắc chắn: Những chiếc vạc ở Đại Nội (1659- 1684), Khánh chùa Thiên Mụ (1677), chuông chùa Thiên Mụ (1710), Cửu vị thần công (1816), Cửu đỉnh (1835-1837), chuông chùa Diệu Đế (1846)…đủ thấy sự phát triển liên tục, đỉnh cao cả về kỷ thuật và nghệ thuật của phường Đúc. Các chùa ở Huế có rất nhiều tượng Phật bằng đồng với niên đại thuộc đầu thế kỷ XX. Và gần hơn, tượng chân dung nhà chí sĩ Phan Bội Châu cao 4m, đúc năm 1974. Tất cả nói lên tài hoa của thợ phường Đúc đúc những tác phẩm nghệ thuật khó và lớn cần có sự chỉ đạo của những người thợ cả - nghệ sĩ bậc thầy, sự phối hợp chặt chẽ của hàng chục người làm ra và của hàng chục lò cùng nấu đồng.

Đồng Dương Xuân đã cống hiến cho vùng Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế những công trình nghệ thuật sống mãi với thời gian, ngày nay đang được tổ chức lại, vẫn làm ra những sản phẩm dân dụng, tham gia vào guồng máy công nghiệp và đúc hàng nghệ thuật nữa.

Thanh bình Bến đò Vĩnh Tu

Du Lịch Huế - Bến đò Vĩnh Tu thuộc xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế khoảng 35km về hướng Đông Bắc.

Bến đò nối hai bờ phá Tam Giang, là điểm vận chuyển giao lưu buôn bán hàng hoá giữa các xã bên kia phá Tam Giang như Quảng Công, Quảng Ngạn... với các xã Quảng Lộc, Quảng Phước... và thị trấn Sịa.Hiện tại,

Dưới đây là những hình ảnh mà chúng tôi ghi lại vào hoàng hôn:








Sunday, April 26, 2015

Bên cầu Phú Cam xứ Huế

Du Lịch Huế - Cầu Phú Cam bắc ngang con sông đào An Cựu, cách cồn Dã Viên của sông Hương về phía Nam chừng hơn một cây số. Vào thế kỷ XVII, dưới thời các chúa Nguyễn, khu vực này là phủ, là chỗ ở dành cho các vương tử, rồi được gọi là Phú Cam. Đây cũng là nơi có làng nghề làm nón nổi tiếng lâu đời của Huế.

Đi theo đường Nguyễn Trường Tộ đến cầu Phú Cam rồi qua cầu một đoạn, những du khách yêu thích kiến trúc sẽ tìm thấy hai công trình đẹp đáng tham quan là Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam và chùa Quốc Ân.

Ngay chân cầu Phú Cam có một đoạn dốc ngắn dẫn lên Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam. Nhà thờ tọa lạc trên một ngọn đồi thấp. Đi từ xa đã thấy hai ngọn tháp chuông cao vút in lên nền trời trong xanh ẩn hiện sau những tán cây. Đây là một trong những giáo đường lớn và lâu đời nhất của cố đô.

Đường vào Nhà thờ Phủ Cam



Được xây dựng lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XVII, sau ba lần bị phá hủy toàn bộ, năm 1963 nhà thờ được xây dựng lại và đến năm 1995 mới cơ bản hoàn thành. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã thiết kế thánh đường theo lối kiến trúc hiện đại vẫn trang trí theo phong cách nghệ thuật cổ điển của phương Tây. Dáng vẻ thanh thoát nhẹ nhàng cùng với vị trí ở trên cao của nhà thờ khiến du khách khi ngắm nhìn từ xa cũng đã cảm thấy lòng thư thái hơn.



Hai tháp chuông nhà thờ

Mặt bằng xây dựng nhà thờ mang dạng thánh giá. Các trụ đỡ được đúc sát vào tường, chạy uốn cong dần về phía trước, mềm mại. Lòng nhà thờ rộng, có thể chứa được 2.500 người đến dự lễ. Có hai dãy cửa gương màu nằm ở phần trên, bên trong nhà thờ cung cấp ánh sáng cho nội thất. Cung thánh là một hình tròn có các cấp đi lên, trên cung là một hình tròn nhưng nhỏ hơn với bàn thờ bằng đá cẩm thạch nguyên khối.

Ra khỏi con dốc nhà thờ rồi rẽ trái theo đường Nguyễn Trường Tộ, đi thêm chừng 2km du khách sẽ gặp một ngôi chùa cổ nằm tại chân đồi. Đó là chùa Quốc Ân, một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Huế và cũng là công trình kiến trúc mang dấu ấn văn hóa Phật giáo của nhiều thời kỳ lịch sử qua nhiều lần trùng tu.

Mái chùa nâu sẫm nằm trầm mặc giữa khuôn viên rộng thênh thang mướt xanh cây cối. Xung quanh chùa cũng là dải đồi xanh yên ả. Chùa được tổ sư Nguyên Thiều (người ở Triều Châu, Quảng Đông) xây vào khoảng năm 1683-1684. Thời ấy, chùa Quốc Ân là một ngôi tổ đình danh tiếng bậc nhất và có vai trò lịch sử rất quan trọng đối với quá trình phát triển Phật giáo xứ Đàng Trong.

Kiến trúc chùa Quốc Ân theo kiểu chữ khẩu truyền thống của xứ Thuận Hóa xưa. Chùa hiện lưu giữ được nhiều tượng khí và pháp khí xưa quý từ thời khai sơn cho đến nay, chẳng hạn bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Thích Ca được chú tạo vào khoảng năm 1851…

Gian bên trái thờ Bồ tát Quan Thế Âm, hai bên là hộ pháp, phía trước thờ Bồ Đề Đạt Ma, gian bên phải thờ Quan Thánh (Quan Vân Trường). Các tượng khí này đều do tổ sư Nguyên Thiều mang từ Trung Quốc sang. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ chiếc khánh đồng có hoa văn rất đẹp, được đúc từ thời Minh Mạng và nhiều pháp bảo, pháp khí khác như đại hồng chung, bia ký...

Qua nhiều lần được các đời hoàng thân quốc thích triều Nguyễn trùng tu, xây đắp, chùa Quốc Ân được bổ sung những phong cách kiến trúc, trang trí của nhiều thời kỳ lịch sử. Chùa được coi là một trong những ngôi tổ đình ở Huế còn lưu lại nhiều dấu ấn văn hóa xưa quý nhất của Phật giáo xứ Thuận Hóa.

Cổng chùa Quốc Ân



Một góc khuôn viên chùa Quốc Ân

Giải nhiệt ngày hè, về miền sông nước

Du Lịch Huế - Giữa thời tiết nóng như đổ lửa, cảm giác được ngâm mình trong làn nước mát lạnh và thưỏng thức các món ăn tươi sống thật là sảng khoái…

Huế đang vào mùa nắng nóng, tìm về với vùng sông nước để được khám phá, trải nghiệm và thư giãn cùng người thân, bạn bè là lựa chọn của nhiều người. Cách thức tự tổ chức du lịch như thế này vừa tiết kiệm chi phí vừa được thỏa sức vui chơi.

Phong phú về dạng địa hình, Thừa Thiên Huế có nhiều vùng biển, đầm phá, hồ, suối… để các bạn tha hồ khám phá. Các chuyến đi xa hay gần được tổ chức tuỳ theo chi phí, phương tiện…
Biển gọi ngày hè

Biển xanh vẫy gọi. Ảnh: Linh Tuệ
Bãi biển Thuận An, Vinh Thanh, Lộc Bình, Cảnh Dương, Lăng Cô… là những địa chỉ quen thuộc, song, vẫn là lựa chọn của nhiều người khi muốn đổi gió. Hải sản tươi ngon, bãi biển sạch đẹp, sóng êm, an ninh trật tự đảm bảo… nên du lịch biển vẫn hấp dẫn các đối tượng người trẻ lẫn người già.
Chị Nguyễn Thuỳ Linh, nhân viên phân phối hàng hóa ở TP Huế cho biết: “Gia đình có khách từ Hà Nội vào chơi nên ngoài các điểm di tích, mình thuê một chiếc taxi để cả nhà cùng về biển tắm, nghỉ ngơi. Sau những ngày lao động mỏi mệt và nhất là khi thời tiết oi bức như thế này, về biển là phương án hợp lý, được nhiều người trong gia đình ủng hộ”.
Theo những người có kinh nghiệm, hạn chế tắm biển vào ban đêm vì rất dễ xảy ra tai nạn đuối nước, hơn nữa, việc hỗ trợ xử lý từ những người xung quanh gặp khó khăn do hạn chế tầm nhìn.
Thác, suối, khe: “vẻ đẹp bí ẩn”
“Vẻ đẹp bí ẩn” là tiêu chí hấp dẫn nhiều bạn trẻ khi muốn trốn nắng trong những ngày này. Họ thường hẹn bạn bè thành từng nhóm 7-10 người, chuẩn bị thêm ít trái cây và thức ăn nhanh rồi cùng xuất phát.
Các điểm đến đang được yêu thích hiện nay là thác A Noh (A Lưới), thác Bàu Ghè, suối Voi (Phú Lộc), khe Đầy (Hương Trà)… Phong cảnh hoang sơ, kết hợp thăm thú một số địa danh trong vùng hoặc khám phá thiên nhiên khiến nhiều bạn trẻ nghe tên là muốn lên đường. Một số lý do khác đi kèm khiến các địa danh nói trên thêm có thêm sức hút đối với những người thích khám phá như: thưởng thức đặc sản ếch, gà nướng suối Voi; bắt cá leo ở A Noh; bẫy chim và nghe chim hót, đặc biệt là ở khe Đầy, nơi chào mào có bộ cánh re rất đẹp, hót cực hay mà những người chơi chim sành điệu mới biết.
Hồ Ngọc Uyên Thư, sinh viên Trường CĐ Sư phạm Huế đến với A Noh chia sẻ: “Tuy đường lên A Lưới còn khó khăn, đường vào A Noh cũng vất vả không kém nhưng đến nơi rồi mới thấy những gì mình trải qua thật xứng đáng. Nước ở đây trong vắt, mát lạnh, không sâu lắm nên thỏa sức ngâm mình. Tới đây nhóm tụi mình còn tận mắt thấy cá leo bơi ngược dòng, thưởng thức các món ăn đặc sản, đặc biệt là cảm nhận nét văn hóa vùng cao A Lưới”.
Với kiểu du lịch đến vùng hoang sơ, tốt nhất, các bạn nên chuẩn bị ít thực phẩm hoặc liên hệ trước với những hộ dân ở gần nơi du lịch để đặt trước các món ăn. Đá ở những suối, khe hồ này thường trơn trượt nên chọn giày có độ bám tốt; cẩn thận trong quá tình di chuyển; khám phá vẻ đẹp thiên nhiên đi thành từng nhóm tránh trường hợp lạc đường hoặc có người bên cạnh giúp đỡ phòng trường hợp bất trắc. Với những gia đình có trẻ nhỏ đi cùng, cần có người lớn kèm chặt các em trong quá trình bơi tắm, tốt nhất là chuẩn bị phao bơi cho trẻ.
Đầm phá: tươi rói và mới mẻ

Nhiều trải nghiệm ở tuyến du lịch đầm phá. Ảnh: Trang Lê
Hệ thống đầm phá ở thừa Thiên Huế trải dài và địa danh này luôn hấp dẫn du khách bởi hiện nay có rất ít tour đi chơi vùng đầm phá. Về vùng sông nước này, ít nhất bạn phải có người quen để liên hệ thuyền hoặc đặt trước chồ làm nơi nghỉ ngơi, thưởng thức ẩm thực. Thôn Ngư Mỹ Thạnh ở xã Quảng Lợi (Quảng Điền) đã tổ chức tour cho nhiều du khách trong và ngoài tỉnh. Các bạn có thể nghỉ lại ở các nhà dân trong thôn, đạp xe đi thăm các làng nghề thủ công, cùng ra phá làm ngư dân với bà con hay theo thuyền đi chợ sớm trên sông.
Nếu có ít thời gian, bạn có thể tìm về đầm Chuồn, xã Phú An (Phú Vang), điểm đến mới với giá cả phải chăng và thú vị hơn nhiều so với cồn Tè. Từ khu tái định cư, đi thuyền ra đầm chừng 7 phút, đến các ô nuôi thuỷ sản, cùng câu cá hoặc thả lưới thu hoạch tôm, cua để tự chế biến bữa ăn cho mình. Đang vào mùa cá kình, nếu chưa có cơ hội thưởng thức bánh xèo cá kình, bạn có thể dặn trước chủ nhà chồ chuẩn bị.

Cá kình, đặc sản của vùng đầm phá. Ảnh: Trang Lê
Anh Nguyễn Dũng, chủ một nhà chồ có khả năng phục vụ cho 30-50 người trên đầm Chuồn cho biết: “Không chỉ các gia đình, nhiều cơ quan, nhóm bạn công ty đều đến đây hàng tuần để được vui chơi, thậm chí là thuê thuyền ra cửa biển Thuận An”.
Điều thú vị là tất cả các loài thuỷ sản nơi đây còn “bơi lội tung tăng” và gắn liền với tên tuổi vùng đầm phá như tôm sú, cá dìa, cá ong, cá nâu… Khi đi đừng quên mang theo máy ảnh bởi phong cảnh ở đầm Chuồn rất đẹp, bạn sẽ có một bộ sưu tập đáng nhớ về con người và sông nước nơi đây.
Theo Tuệ Ninh

Chi Lăng – con đường di sản của Huế

Du Lịch Huế - Con đường Chi Lăng, được giới nghiên cứu Huế đánh giá là khu đẹp nhất của phố cổ Gia Hội vẫn e lệ, sâu lắng và đầy hấp dẫn. Nhưng đáng tiếc chẳng có tour du lịch nào đến nơi đây.



Chùa cổ Trường Xuân.

Con đường Chi Lăng nằm phía đông kinh thành Huế, nay thuộc địa phận ba phường Phú Cát, Phú Hiệp, Phú Hậu, TP Huế. Khởi đầu từ đường Trần Hưng Đạo (tiếp giáp đầu cầu Gia Hội), con đường chạy qua ngã ba các đường Tô Hiến Thành, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương rồi qua chợ Dinh, qua đường Nguyễn Gia Thiều với chiều dài 1850m. Đoạn nối dài của nó chạy sâu vào đất làng An Quán xưa ra tận bờ sông Hương phía nhà thờ Bãi Dâu có chiều dài gần 860m.
“Chất Huế” rất riêng
Nếu kinh thành Huế và lăng tẩm các vua triều Nguyễn là những gì còn sót lại của một vương triều đã lùi vào xa vào dĩ vãng thì con đường Chi Lăng chính là “dấu ấn” vẫn chưa vội phai mờ của đời sống của cư dân mảnh đất thần kinh xưa. Đến nay, trên con đường Chi Lăng, nhiều di tích lịch sử rất có giá trị đối với dòng chảy văn hóa Huế vẫn được lưu giữ và bảo tồn.

Hội quán người Hoa.

Đầu tiên là “khu phố Tàu”. Đầu thế kỷ 19, khi Huế trở thành kinh đô của nước Việt thống nhất dưới thời Nguyễn, người Hoa kiều tập trung đến khu phố Đông Kinh thành làm ăn sinh sống rất đông. Con đường Chi Lăng đã trở thành địa điểm có cộng đồng người Hoa nhiều nhất ở Huế từ trước đến nay. Các công trình kiến trúc người Hoa trên trục đường nơi đây đẹp không thua gì ở phố cổ Hội An. Thậm chí cảnh quan và nội thất vẫn nguyên vẹn y như lần đầu xây mới. Từ đền Chiêu Ứng, Chùa Bà, Chùa Quảng Đông đến Hội quán Triều Châu, Hội quán Phúc Kiến (và mấy năm gần đây là Hội quán Quảng Triệu) đều được các cộng đồng người Hoa xây dựng rất công phu, uy nghi và tráng lệ. Nhà thuốc Bắc Hòa Thạnh Đường và các xóm người Hoa xung quanh các di tích tâm linh nói trên trên đã tạo nên một khu phố Tàu rất “riêng” cho con đường Chi Lăng xưa và nay.

Dưới khu phố Tàu là khu chợ Dinh. So với “Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại” thì khu chợ Dinh ngày nay nhỏ bé hơn và khiêm nhường hơn. Nhưng địa danh này lại gắn liền với một nhân vật lịch sử quan trọng thời Nguyễn là cụ Trần Tiễn Thành, một trong ba vị quan đầu triều nhà Nguyễn thời thực dân Pháp xâm lược nước ta. Theo một số người già ở đường Chi Lăng, cụ Trần Tiễn Thành rất được người dân kính trọng nên ở khu phố Chi Lăng xưa được gọi là phố chợ Dinh.

Tuy nhiên, có một cách hiểu khác là do đường Chi Lăng có rất nhiều phủ đệ của các ông hoàng bà chúa và các quan đại thần nên dân gian mới gọi là phố chợ Dinh. Ở đường Chi Lăng hiện vẫn còn một số phủ đệ như Phủ Thọ Xuân, Phủ Thoại Thái Vương, Phủ Hòa Thạnh Vương, Phủ Quảng Biên Quận Công.

Trụ sở Tiên Thiên Thánh giáo.

Đặc biệt hơn, con đường Chi Lăng còn là tuyến đường có nhiều công trình kiến trúc tâm linh của người Việt như Thanh Bình Từ Đường, trụ sở Thiên Tiên Thánh giáo của Việt Nam, nhà thờ Trần Hưng Đạo và chùa cổ Trường Xuân.
Thanh Bình Từ Đường, nhà thờ tổ ngành Sân khấu lớn nhất của cả nước được Nhà nước công nhận là Di tích văn hóa cấp quốc gia loại 1 vào lần đầu tiên. Các gánh hát trong cả nước thường về làm lễ tế tổ ở đây hằng năm rất đông. Thời xưa, bao quanh từ đường là Thự Thanh Bình, cơ quan quản lý công việc múa hát cung đình. Đây là trụ sở của các đội Võ can - tổ chức văn công chuyên nghiệp của triều đình và những lớp Đồng ấu, trường đào tạo nghệ nhân múa hát.
Trụ sở Thiên Tiên Thánh giáo Việt Nam cũng là một di tích tâm linh rất đặc biệt. Đặc biệt là vì nó là trụ sở chính của cả nước và là điểm “làm lễ” đầu tiên để tổ chức lễ chính thức tại Điện Hòn Chén.
Nhà thờ Trần Hưng Đạo được xây dựng khá đẹp bên cạnh từ đường dòng họ Phạm, trên một đoạn là từ đường dòng họ Nguyễn Tư. Còn ngôi chùa cổ Trường Xuân được dựng lập từ thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát và dưới triều Nguyễn gọi là Xuân An Tự. Nhân dân Huế mỗi dịp Lễ Tết đều đến chùa bái vọng và cầu xin sức khỏe, vận mạng rất đông đúc.



Nhà cổ ở Chi Lăng Huế

Bên cạnh đó, đường Chi Lăng hiện nay có bảo tồn khá nhiều nhà cổ. Một số ngôi nhà đã được Nhà nước cấp kinh phí trung tu nên đã giữ được dáng vẻ vững chãi của ngôi nhà cổ ba gian hai chái.
Nếu như các di tích là “lời mời di sản” thì những đặc sản ẩm thực của con đường Chi Lăng lại hấp dẫn du khách đến nao lòng. Du khách đến Huế thường ghé vào cửa hàng Thiên Hương để mua mè xửng về làm quà hoặc nhâm nhi thưởng thức lúc đêm về. Các quán bún bò Huế (ngon nhất là quán O Liễu, gần cầu Gia Hội), Quán Bến Đò Cồn (bánh khoái và nem lụi), Quán Tranh (bèo nậm lọc), Chè Sữa (gần chợ Cồn Phú Cát), Chợ Dinh (cháo con trai và bún mắn nêm) đã trở thành những thương hiệu ẩm thực tin cậy cho du khách đến Huế. Đối với những du khách ưa ẩm thực hàng “rong”, những quán bún hến, cháo lòng, bún thịt nướng, bánh canh nam phổ… cũng sẵn sàng phục vụ với những giá rất ư là bình dân nhưng khá ngon miệng.
Bên cạnh những món ẩm thực nổi tiếng nhất nhì Huế, đường Chi Lăng còn nổi tiếng với thú chơi đổ cổ, hai nhà hàng tổ chức đám cưới, tiệm vàng Hoàng Đức, rạp Hoàn Mỹ cũ và xóm Chùa làm hàng mã. Hai cha con ông Nguyễn Văn Cường và bác sĩ Nguyễn An Huy - những nhà chơi tiền cổ nổi tiếng Việt Nam hiện đang sống tại số 166 Chi Lăng. Hai nhà hàng tổ chức đám cưới được xây theo lối kiến trúc cổ (Gia Hội và Cung Hỷ) cũng khiến đường Chi Lăng lộng lẫy hơn. Tiệm vàng Hoàng Đức số 75 Chi Lăng được giới buôn bán trang sức bằng vàng Huế ưu chuộng vì có ngay một xưởng gia công vàng ngay sau tiệm với những thợ thủ công lành nghề. Rạp Hoàn Mỹ vẫn còn bảng hiệu như thời còn vàng son của nó. Xóm Chùa Chi Lăng thì tỏa hãng mã đi khắp các chợ và các vùng ở TP Huế với “thương hiệu” đã có truyền thống trăm năm (nhất là nghề làm quạt).
Khi nào mới có tour du lịch?
Nhà văn xứ Huế Nguyễn Khắc Phê đã từng nói rằng: “Đến Huế, mà chưa thảnh thơi dạo bước vào chơi dăm ba ngôi nhà vườn đẹp nhất, hay chưa ghé thăm một vài Vương phủ ở chốn cựu kinh, thì coi như... chưa đến”. Tuy nhiên trong thực tế, con đường Chi Lăng với khá nhiều di tích và rất nhiều “điểm hẹn” như trên hầu như đã bị lãng quên bởi các tour du lịch và các chương trình lễ hội. Anh Nguyễn Đôn Long, hướng dẫn viên du lịch của một công tuy lữ hành Huế từng trao đổi với tôi về ước mơ có một tour du lịch về khu phố cổ Gia Hội để quảng bá rộng rãi và chính xác hơn cho du khách về “hồn xưa nét Huế”. Nhưng đến nay mọi việc vẫn dừng ở mức độ “ý tưởng” của hai “phó thường dân” vẫn còn đang đau đáu nỗi lo cơm áo gạo tiền. Nghĩ mà tiếc và buồn ngẩn ngơ cho một con đường di sản…

Làng lặn biển

Du Lịch Huế - Làng Phú Hải 1, xã Lộc Vĩnh (Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế) là một ngôi làng nghèo ven biển, được bao bọc bởi đồi cát. Người dân nơi đây quanh năm mưu sinh bằng nghề bắt tôm, ốc dưới đáy đại dương.


Nghề biển luôn đối diện với hiểm nguy nhưng vì không tìm ra nghề gì nên từ thanh niên đến người lớn đều phải ra khơi.

Tập sống dưới đáy đại dương

Ông Trần Đình Huế, 55 tuổi, có hơn 30 năm sống bằng nghề lặn ốc, với bề dày kinh nghiệm ông đã trở thành “thầy lặn”. Nhiều trai làng đến nhờ ông dạy cách “sống” dưới đáy đại dương. Ông nói: “Nghề lặn rất nguy hiểm, không phải cứ ngậm ống ôxy là lao xuống đáy biển được. Tôi dạy cho thanh niên chủ yếu là cách phát hiện luồng nước độc, giữ nhiệt trong cơ thể hoặc lặn lâu mà không bị nhức xương”. Ông Huế kể: “Ngày xưa bọn tôi đi lặn biển không có bình ôxy như bây giờ, nên xuống vài phút phải nổi lên và chỉ lặn độ sâu 4-5 m, hiểm nguy cao hơn. Giờ thanh niên làng chế được bình gas thành bình ôxy, nên chỉ cần nắm vững các bài học cơ bản là có thể tự tin sống dưới đáy đại dương cả ngày, với độ sâu lên đến 20-25 m…”.

Một trong những học trò giỏi của thầy Huế là anh Phan Vọng, 30 tuổi, khỏe mạnh rắn chắc như chàng trai mới vào nghề. Anh khoe: “Mình học lặn từ thầy Huế năm 14 tuổi. Nên giờ mình có thể sống dưới biển với độ sâu 20-25 m cả ngày liền, khi nào đói lên ăn cơm”.

Anh Phan Vọng đang chuẩn bị đồ nhái ra khơi lặn tìm tôm hùm, ốc.

Để có được thành tích đó anh phải dày công. Lúc đầu nghe nói lặn độ sâu 6-7 m đã sợ. Nhưng ở làng muốn có cái ăn thì nhất quyết phải học lặn. Lúc đầu anh học lặn chay (không bình ôxy) ở sông. Khi cảm giác biết ngụp lặn và làm chủ được nước, thầy bắt đầu cho dùng bình ôxy, tập lặn ở độ sâu chừng 2-3 m. Thời gian đầu lặn chỉ được 8-10 phút vì tức ngực và khó chịu. Khoảng một tháng sau thì quen dần và bắt đầu đi lại được dưới đáy sông.

Sau đó thì bắt đầu ra biển, lặn ở độ sâu 10 m, dưới áp lực nước, cứ nín được 10 phút lại phải nổi lên, vì nhức xương và chảy máu mũi. Thầy liền dạy cho Vọng cách xì hơi tai. Tức là khi nhảy xuống biển chỉ cần nín thở và đẩy hơi trong cơ thể ra khỏi tai. Từ đó anh có thể đi lại dưới biển cả ngày!”.

Hiểm nguy đời lặn biển

Anh Trần Đình Thuận, 28 tuổi, có 15 năm làm nghề lặn biển thở dài: “Cái nghề này bạc lắm lắm chú ơi, cực nhọc và sống-chết luôn treo lơ lửng trên đầu…”. Anh kể: “Cách đây hai tuần tôi và ba bạn thuyền ra biển, vừa xuống độ sâu 20 m thì thấy nhức xương và máu mũi trào ra. Tôi liền ngoi lên khỏi mặt nước, lên thuyền chân, tay tê cứng. Mấy anh em bàn để tôi vào bờ nhưng tiếc công và tiền xăng bỏ ra khơi nên liều ở lại. Ngồi trên thuyền thấy anh em ngụp lặn cực tôi không ngồi yên được và tiếp tục buộc chì nhảy xuống biển làm việc trở lại. 2 tiếng đồng hồ tôi bị đau lại. Lần này, tôi cũng kịp nổi lên mặt nước nhưng miệng và người không cử động được, mọi người hoảng chở tôi vào bờ. Sau hai tháng điều trị ở bệnh viện tôi mới lành…”. Tưởng lần đó anh Thuận sẽ bỏ nghề lặn biển nhưng vì phải kiếm gạo nuôi vợ và một đứa con nhỏ nên anh lại đi tiếp.

Theo anh Thuận, đầu năm 2012 cả làng đi biển gặp nước độc: “Hơn 20 chiếc thuyền, có trên 100 người ra biển trúng độc chân, tay tê cứng và nhức xương phải đi cấp cứu tại trạm xá. Luồng nước này thường xuất hiện vào tháng 5, nếu thợ nào lặn trúng luồng chính của nước độc thì nguy cơ bị bại liệt hoặc chết rất cao…”.

Từng gặp nạn trên biển, anh Nguyễn Văn Sơn vẫn lạnh dọc sống lưng khi nhớ lại: “Tháng 1-2013, tôi và bốn bạn thuyền ra biển lặn bắt tôm hùm. Lúc tôi nhảy xuống độ sâu 20 m thì nghe nhức xương, dù vậy tôi vẫn cố gắng không nổi lên mặt nước. 1 tiếng đồng hồ sau, máu trong mũi trào ra, tay chân cứng đờ, khiến tôi không đủ sức tháo chì để người nổi lên mặt nước. Tôi liền nhả vòi ôxy lấy miệng tháo sợi dây buộc chì, đạp cho người nổi lên và kêu cứu. Anh bạn ngồi trên thuyền nhảy xuống đưa lên. Tôi thấy người cứng đờ và lịm đi…”. Ông Nguyễn Tài (bố Sơn) ngồi bên cạnh tiếp: “Lúc người ta chở về nó vẫn bất tỉnh, da xanh, miệng sùi bọt mép, tôi liền thuê xe đưa nó vào thẳng BV Trung ương Huế… Lúc nhập viên, bác sĩ bảo nguy cơ sống sót chỉ 10%. Nghe vậy tôi chết lặng… mẹ nó thì khóc thét giữa bệnh viện. May mắn sau hai tháng nằm bất tỉnh nó dần hồi phục, giờ sức khỏe đã đỡ hơn nhưng chân vẫn còn bị tê và đi lại khó khăn…”.

Giờ nhắc đến chuyện đi biển, anh Sơn buồn nói: “Tôi cũng muốn rời quê kiếm nghề khác làm cho đỡ khổ và giữ được cái mạng nhưng vướng vợ con nên chắc ở lại đây tiếp tục lặn để kiếm gạo thôi…”.

Đường cùng!

Ông Nguyễn Ngọc Chinh, trưởng thôn Phú Hải 1, cho biết toàn thôn có 225 hộ với 880 khẩu: “Đất nông nghiệp ít nên hầu hết người dân sống bằng nghề lặn biển kiếm sống. Thôn có trên 20 thuyền nhỏ và gần 200 người thường xuyên lặn biển. Sở dĩ người dân nơi đây chọn nghề lặn nhiều là do không có kinh phí đóng thuyền lớn để ra khơi...”.



Ông Trần Đình Huế dù đã lớn tuổi nhưng vẫn theo con ra khơi lặn tìm ốc kiếm sống. Ảnh: V.LONG

Ông Trần Đình Lý, 55 tuổi, ứa nước mắt khi nhắc đến chuyện ba người con đều theo nghiệp bố: “Buồn lắm chú ạ, làm cha mà chẳng tìm được nghề nào tốt cho con. Ai cũng biết nghề lặn tôm hùm, ốc bạc lắm! Lại luôn phải đối mặt với bệnh tật nhưng sống giữa vùng cát này biết làm cái gì ra tiền, nếu không ra biển. Nghề này nó rút ngắn tuổi thọ con người đến vài chục năm. Tôi năm nay mới 50 tuổi mà già khụm, râu tóc bạc phếch. Tôi nhớ cách đây chừng 10 năm, gần tạ gạo trên vai mang chạy hàng chục km nhưng giờ thì chịu, sức lực kiệt rồi. Cũng vì nghề bán sức nên làng này có mấy người lặn biển sống thọ đâu…”.

Cùng cảnh ngộ, ông Nguyễn Thạch, 52 tuổi, hằng ngày vẫn cùng năm đứa con ra biển, kể: “Cách đây hai năm, tôi quyết không cho đứa út theo nghề lặn biển, nên dạy cho nó cách bủa lưới gần bờ. Nhưng giờ cá tôm trong bờ khan hiếm làm không đủ ăn. Thấy vợ con xanh xao vì đói nó lại phải học nghề lặn, giờ tôi và năm đứa con đều theo nghề này”.

Theo ông Thạch, mỗi năm nghề lặn biển chỉ hoạt động thường xuyên chừng năm tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 âm lịch), nên thu nhập bấp bênh, cuộc sống không mấy dễ thở…

Không chỉ đàn ông lặn biển mà bà Nguyễn Thị Vòm, 50 tuổi, cũng phải học nghề lặn. Bà Vòm cho biết ngày xưa, đàn ông lặn biển, đàn bà đi bủa lưới ở cửa cảng Chân Mây nhưng từ khi cảng Chân Mây cấm người dân đánh bắt cá khiến cuộc sống thêm khó khăn: “Huyện, tỉnh về nói chúng tôi dừng đánh bắt cá để tàu hàng ra vào cảng được an toàn, đổi lại người dân sẽ được tỉnh giải quyết việc làm ở cảng Chân Mây và một số nơi khác. Nghe vậy dân chúng tôi mừng và đồng ý ngay. Nhưng lời nói gió bay, hơn năm qua con tôi và nhiều người dân nộp hồ sơ, xin vào làm nhân việc nhặt rác ở trong cảng cũng chẳng ai nhận. Tôi giờ 50 tuổi cũng phải học lặn theo con ra khơi tìm tôm, ốc bán nuôi thân”.

Từ lặn sắt chuyển sang lặn bắt tôm hùm

Ông Nguyễn Văn Hòa cho biết nghề lặn của làng vốn đã tồn tại hàng trăm năm. Trước đây, người dân chủ yếu lặn sắt từ những con tàu đắm để bán, từ năm 2000 thương lái ở Nha Trang săn tôm hùm giống nên hầu hết chuyển sang nghề lặn tôm hùm. Tuy nhiên, mùa lặn tôm hùm chỉ kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 âm lịch nên việc lặn tôm hùm không thường xuyên khiến cuộc sống người dân còn nhiều bấp bênh.

Theo bài và ảnh: VIẾT LONG

Nước mắm Phú Thuận cần "cái tên"

Du Lịch Huế - Xã Phú Thuận (huyện Phú Vang, TT- Huế) không chỉ là địa phương có nghề khai thác biển phát triển, mà còn được biết đến với nghề chế biến mắm và làm nước mắm nổi tiếng.

Tuy nhiên, trong hàng trăm cơ sở sản xuất lớn nhỏ thì đến nay chỉ có 4 cơ sở chế biến nước mắm đăng ký nhãn hiệu. Điều này khiến nhiều cơ sở chế biến nước mắm ở đây gặp không ít khó khăn về đầu ra.

Nghề truyền thống

Phú Thuận là một xã vùng biển và đầm phá, có gần 5,5 km chiều dài dọc phá Tam Giang – Cầu Hai, với tổng diện tích mặt nước gần 410 ha, thuận lợi cho việc khai thác và chế biến thủy sản.

Hiện trên địa bàn xã có 3 liên đoàn đánh cá với 56 tàu đánh bắt xa bờ, 2 chi hội nghề cá với sản lượng hằng năm chiếm khoảng 50% tổng sản lượng toàn huyện Phú Vang và 30% tổng sản lượng của toàn tỉnh TT- Huế.

Nghề chế biến thủy sản cũng được xem là một trong những thế mạnh của địa phương. Toàn xã có khoảng 300 hộ dân chuyên làm nghề chế biến mắm, và nước mắm các loại, trong đó có khoảng 100 hộ sản xuất với quy mô lớn. Trung bình mỗi năm sản xuất hơn 2,5 triệu lít nước mắm.

Riêng 6 tháng đầu năm 2013, người dân ở địa phương sản xuất gần 2 triệu lít nước mắm các loại. Thương hiệu nước mắm Phú Thuận vốn rất nổi tiếng, không những trong nước mà còn có mặt ở một số nước trên thế giới như Thái Lan, Philipinnes, Capuchia… 4 cơ sở đăng ký nhãn hiệu đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động với thu nhập bình quân đầu người 30 triệu đồng/năm.

Sản xuất mắm ở Phú Vang giải quyết hàng trăm lao động nông thôn

Ông Nguyễn Thanh Tấn (thôn An Dương, xã Phú Thuận), chủ một cơ sở nước mắm ở đây cho biết: “Bình quân mỗi năm cơ sở tui đầu tư trên dưới khoảng 100 lu mắm, một lu mắm lãi chừng 4-5 triệu đồng. Bình quân, cơ sở mắm của tui giải quyết khoảng 5-7 lao động, nhưng đến đầu mùa thu mua cá, thì phải có vài chục lao động mới làm xuể việc. Nghề làm mắm không chỉ tạo việc làm khá ổn định cho bà con ngư dân mà còn làm giàu cho nhiều hộ gia đình”.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Quang Dân, Phó chủ tịch UBND xã Phú Thuận cho biết: “Địa phương Phú Thuận chủ yếu làm nghề đi biển và chế biến mắm. Riêng làng An Dương, có hơn 90% hộ dân làm nước mắm, trong đó có khoảng 100 cơ sở chế biến quy mô lớn. Việc phát triển ngành nghề chế biến mắm và nước mắm đã góp phần tăng thu nhập cho người dân bên cạnh kinh tế biển”.

Cơ sở sản xuất nước mắm ruốc Thành Vân của bà Nguyễn Thị Vân là một trong những cơ sở sản xuất lớn ở thôn An Dương, xã Phú Thuận. Bà Vân cho biết, trước đây, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, sản phẩm làm ra gặp khó khăn trong tiêu thụ. Trước thực trạng đó, bà đã tham gia học các lớp tập huấn về VSATTP, mở rộng sản xuất, tìm kiếm thị trường.

Từ năm 2003, cơ sở của bà được Sở Công thương TT- Huế hỗ trợ tiền lãi vay ngân hàng 170 triệu đồng, bà đầu tư thêm 70 triệu đồng, để xây dựng cơ sở chế biến nước mắm trên tổng diện tích 500m2. Ban đầu, chưa tìm kiếm được thị trường nên chỉ sản xuất cầm chừng 1 ngàn lít/năm. Chỉ sau một thời gian ngắn, nước mắm Thành Vân đã được nhiều khách hàng biết đến.

Hiện cơ sở sản xuất bình quân hơn 10 ngàn lít nước mắm/năm.

Quản ký không theo kịp phát triển

Việc đăng ký nhãn mác và tuân thủ các quy định về VSATTP đã giúp nhiều cơ sở nước mắm ở Phú Thuận thuận lợi hơn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm. Song đến nay, trong số hàng trăm cơ sở sản xuất mắm và nước mắm ở đây thì chỉ có 4 cơ sở đăng ký nhãn hiệu.

Bà con sản xuất theo dây chuyền truyền thống, tự phát, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, nhỏ lẻ, vốn ít, kỹ thuật còn hạn chế và chưa được đào tạo qua trường lớp nên vẫn gặp không ít khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm.

Ông Nguyễn Thanh Tấn, chủ một cơ sở sản xuất nước mắm thôn An Dương cho biết: “Việc đăng ký nhãn hiệu đối với bà con sản xuất tại làng nghề khá khó khăn bởi từ trước đến nay, cơ sở của tui cũng như nhiều hộ dân khác đều “quen” với việc sản xuất quy mô hộ gia đình, tự phát nên để đăng ký nhãn mác, thương hiệu, cần có sự hỗ trợ nguồn vốn, tư vấn của các ngành chuyên môn”.

Cùng trăn trở với người dân, ông Nguyễn Quang Dân, Phó chủ tịch UBND xã Phú Thuận thừa nhận: “Thực hiện chủ trương xây dựng NTM, giai đoạn năm 2012-2015, UBND xã Phú Thuận quy hoạch làng nghề chế biến nước mắm tập trung trên diện tích 2 ha, ở làng Phú Mỹ, thôn An Dương. Thời gian qua, cán bộ địa chính của UBND xã Phú Thuận đã tiến hành đo đạc, nhưng do chưa có kinh phí nên việc quy hoạch chi tiết làng nghề chế biến nước mắm vẫn chưa thực hiện được”.

Ông Dân cho biết thêm, hiện tại ở Phú Thuận các cơ sở hình thành ngày một nhiều, trong khi mặt bằng xản xuất chủ yếu là nhà dân, diện tích nhỏ hẹp nên gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các hộ lân cận. Vì vậy, để giúp bà con chuyển đổi từ sản xuất truyền thống, khép kín sang quy trình sản xuất có áp dụng các tiến bộ KHKT nhằm đáp ứng nhu cầu cạnh tranh ngày càng khắt khe của thị trường, thiết nghĩ cần có sự chung sức, vào cuộc của các ban ngành hữu quan.

Theo thống kê, hiện trên địa bàn tỉnh TT- Huế có hơn 400 cơ sở chế biến mắm và nước mắm phân bố ở các địa phương như Phú Vang, Phong Điền, Phú Lộc…, nhưng do nhiều cơ sở có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tự phát nên đến nay chỉ có hơn 120 có sở được cấp giấy chứng nhận VSATTP và xây dựng nhãn mác.

Saturday, April 25, 2015

Phú Diên – vẻ đẹp ẩn của một bãi biển mới

Du Lịch Huế - Từ lâu, người ta chỉ biết đến Phú Diên (Phú Vang) với ngôi Tháp Chăm Pa có từ thế kỷ thứ VIII. Giờ đây, du khách còn được thỏa mình thư giãn bên bờ biển đẹp Phú Diên như một sự kết hợp hoàn hảo.

Cách trung tâm thành phố Huế chừng 30km về hướng đông nam, biển Phú Diên mang trong mình vẻ hấp dẫn của một bãi biển mới. Sự kết hợp du lịch Tháp Chăm Pa – Biển Phú Diên đã khơi nguồn cho những ai đam mê vẻ đẹp của thiên nhiên.
Bên cạnh vẻ đẹp của tạo hóa, biển Phú Diên còn được lòng du khách bởi sự hiếu khách của người dân. Với niềm tự hào về biển và mong muốn làm đẹp cho quê hương, những người dân sống ở đây luôn niềm nở, hài hước nhưng cũng không giấu được vẻ thật thà chất phác. Không “chặt chém” khách như một số bãi tắm khác, biển Phú Diên chiều lòng khách với giá cả phải chăng “Dân địa phương còn nghèo, bán đắt quá làm sao họ dám đến”, chú Nguyễn Văn Dương, chủ quán Lá Huệ, chia sẻ. Bên cạnh đó, du khách có thể được miễn giá chòi, tắm nước ngọt, giữ xe mà không mất tiền nếu sử dụng các món ăn, thức uống tại quán. Chính quyền địa phương cũng thường xuyên kiểm tra việc niêm yết giá và vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Tình trạng người ăn xin, bán hàng rong đeo bám khách hầu như không xảy ra.
Vấn đề an toàn vui chơi tắm biển của người dân và du khách được chính quyền xã đặc biệt quan tâm. Bên cạnh những người dân cứu hộ, đội biên phòng luôn sẵn sàng túc trực ở chòi canh và kịp thời ứng cứu nếu có tình trạng không may xảy ra.
Cần đẩy mạnh hoạt động quảng bá
Một ngày trên biển Phú Diên, chúng tôi cảm nhận được sự thoái mái, bình yên từ bãi biển và tình cảm mến khách của người dân nơi đây. Biển không xô bồ, đông đúc, thích hợp cho những chuyến vui chơi gia đình.
Là một bãi biển mới có tiềm năng du lịch nhưng chưa được nhiều du khách trong tỉnh biết đến, người dân Phú Diên vì vậy cũng chưa được hưởng lợi nhiều từ du lịch biển. Theo chị Thái Thị Mỹ Hạnh, chủ quán Tuổi Hồng: “Lượng du khách tới đây ít, chủ yếu là dân địa phương và một số vùng lân cận, lại chỉ đông vào ngày thứ bảy, chủ nhật khiến thu nhập từ việc kinh doanh chưa hiệu quả”.
Mặc dù chính quyền địa phương đã thực hiện nhiều biện pháp để phát triển bãi biển Phú Diên với nguyện vọng nâng cao đời sống cho người dân nhưng đến nay đó vẫn chỉ là biển tự phát, chưa có quy hoạch cụ thể. Theo ông Lê Đức Thông, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Diên: “Xã đã nhiều lần kêu gọi đầu tư kinh doanh, tạo ra sự sôi động cho bãi biển nhưng hiện tại vẫn chỉ được 3 quán là Tuổi Hồng, Lá Huệ và Hải Triều”.
Khi chúng tôi hỏi đến, nhiều ước mơ của người dân nơi đây mới được nói ra. Đó là mong một con đường xuống bãi biển. Đó là mong một mặt bằng rộng hơn để người dân thỏa sức kinh doanh và lớn hơn là mong một sự quảng bá để người dân biết đến biển Phú Diên. Những mơ ước đó cần rất nhiều sự chung tay giúp đỡ của các cơ quan có thẩm quyền để mang lại cho Huế một địa điểm du lịch lý tưởng, qua đó nâng cao cuộc sống của bà con nơi đây.
Theo Lê Hữu Phúc

Cồn Tè - điểm du lịch sinh thái mới lạ của Huế

Du Lịch Huế - Thay vì đến với các lăng tẩm, đền đài, ghé sông Hương núi Ngự... Huế còn rất nhiều điểm du lịch sinh thái mới, hấp dẫn mà bạn nên khám phá. Một trong những điểm đến thú vị đó là Cồn Tè.

Nằm trong địa phận xã Hương Phong, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, Cồn Tè là địa chỉ du lịch sinh thái lý tưởng cho bạn và gia đình cùng trải nghiệm những khám phá thú vị.



Cồn Tè là vùng đất ngập mặn nằm đối diện cửa biển Thuận An, thuộc địa phận xã Hương Phong, huyện Hương Trà. Từ ngày công trình cầu – đập Thảo Long được đưa vào sử dụng, nơi đây trở thành một điểm du lịch sinh thái thu hút nhiều du khách đi theo nhóm bạn bè hoặc gia đình.

Từ trung tâm TP Huế đi theo quốc lộ 49 về hướng Thuận An, đến cầu Diên Trường (xã Phú Tân, huyện Phú Vang) rẽ trái, đi thêm chừng 5 km nữa là du khách đã đến với Cồn Tè.

Những hồ nước ngập tràn hoa súng trắng và cỏ lau sẽ là khung cảnh tuyệt đẹp để bạn chụp vài tấm ảnh lưu niệm cho chuyến hành trình đầy thú vị này. Cồn Tè còn được xem là vành đai trú ẩn của ấu vùng thủy sản vùng nước lợ nên mảnh đất này trông giống một khu bảo tàng thu nhỏ. Thủy triều rút, bên những lạch nước con con là dải đất nâu điểm xuyến màu xanh của sú, bần trắng. Chiều về, đám trẻ nhỏ ở thôn Thuận Hòa B cần mẫn tìm bắt những chú ốc, còng…

Dọc đường đến Cồn Tè là khung cảnh vừa thanh bình lại rất đỗi quen thuộc của làng quê Việt với bờ đê, con đò, những đàn bò nhẩn nha gặm cỏ bên đầm phá Tam Giang mát mẻ. Vào những ngày nắng nóng bạn có thể ghé chân vào một trong những “đặc sản Cồn Tè”, ngồi trên những căn nhà chòi bốn bề lộng gió, thưởng thức vô vàn món ngon từ đầm phá như tôm, mực nướng, cá hồng, cá mú tươi ngon mới bắt lên từ phá Tam Giang, bao nhiêu mệt mỏi dường như tan biến.

Vào những buổi chiều tà, khi ánh hoàng hôn buông xuống, đầm phá Tam Giang như được khoác lên mình một chiếc áo màu vàng lấp lánh. Sóng nước mênh mông trong ánh vàng của hoàng hôn làm cho chúng ta liên tưởng về một bài hát nổi tiếng của Nguyễn Thiện Thanh: Chiều trên phá Tam giang. Liên tưởng một nỗi nhớ về thành phố, nơi cách chúng ta không xa về không gian, nhưng lại khác hẳn về khung cảnh...Giờ này thương xá sắp đóng cửa người lao công quét dọn hành lang. Giờ này thành phố chợt bùng lên để rồi tắt nghỉ sớm...

Nếu mỏi mệt, hãy dừng chân ở những quán ăn nằm ven hồ nuôi tôm. Đây là lúc bạn và những người thân thưởng thức sản vật của đầm phá. Một bếp than để nướng những chú tôm còn nhảy tanh tách hoặc lựa những chú cá mú, cá hồng còn bơi lượn trong lưới tạo nên niềm phấn khích cho mọi người.



Theo các ngư dân có kinh nghiệm, sở dĩ đầm phá Tam Giang có nhiều cá ngon là do nguồn nước luôn được luân lưu, môi sinh trong sạch. Mặt khác, đây cũng là vùng duy nhất trong phá Tam Giang còn lại loài rong hẹ (còn gọi rong cỏ kiệu) là thức ăn số một và cũng là nơi sinh cư lý tưởng của các loài cá con như cá mú, cá hồng, cá dìa, cá kình và cá nâu. Các loài cá ở phá Tam Giang rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Người Huế thường gọi chúng là những “con cá thuốc bắc”, bởi thịt cá có chức năng như một liều thuốc an thần nhẹ, chống mất ngủ và giảm tress rất hiệu quả. Đặc biệt, các món cá kình, cá nâu, cá dìa hấp mồng tơi ở đây vẫn được lưu truyền là loại thuốc trị chứng mất ngủ hiệu quả.Các loại cá trên cũng đặc biệt ngon, bổ khi được nấu cháo. Khi những hạt gạo đã bắt đầu nở búp trong nồi, nước cháo sôi sùng sục, những chú cá ong, cá dìa, cá nâu tươi nguyên còn giãy đành đạch, được tẩm qua gia vị thả ào vào soong. Hương thơm bốc lên ngào ngạt. Húp bát cháo cá tươi quyện trong vị cay nồng của hành hương, mồ hôi trong người toát ra, mọi độc tố tồn đọng trong cơ thể dường như được tống khứ. Toàn thân nhẹ hẫng một cảm giác sảng khoái lâng lâng...



Về với Cồn Tè bạn có thể mắt thấy, tai nghe, tay sờ đến cái gọi là “sự sống xanh” ở vùng đầm phá này.

Khánh Chi

Friday, April 24, 2015

Công nhận làng nghề bún bánh Ô Sa

Du Lịch Huế - UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã có Quyết định số 725/QĐ-UBND công nhận làng nghề bún bánh Ô Sa huyện Quảng Điền là làng nghề, làng nghề truyền thống cấp tỉnh.


Làng nghề sản xuất bún, bánh ở thôn Ô Sa, xã Quảng Vinh có truyền thống từ lâu đời. Toàn thôn Ô Sa hiện có 45 hộ chuyên tham gia sản xuất bún, bánh giải quyết việc làm cho 80 lao động. Trong đó có 8 hộ gia đình sản xuất bún, bánh với quy mô máy móc hiện đại. Bình quân mỗi ngày có khoảng 4,5 tấn bún, bánh của làng Ô Sa được tiêu thụ trên địa bàn tỉnh. Theo tính toán của người dân làng nghề cứ 1 tấn bún, bánh bán được 6 triệu đồng thì cho lãi ròng 2 triệu đồng. Tổng thu nhập từ nghề sản xuất bún, bánh của thôn Ô Sa trong năm 2012 vừa qua đạt hơn 5,5 tỷ đồng, lãi từ nghề đạt hơn 2,2 tỷ đồng, chiếm hơn 60% tổng thu nhập của toàn thôn.

Như vậy đến nay huyện Quảng Điền có 1 làng nghề truyền thống là Đan lát mây tre Bao La (Quảng Phú) và 3 làng nghề gồm bún bánh Ô Sa (Quảng Vinh); làng nghề Chế biến mắm nước mắm Tân Thành (Quảng Công) và làng nghề Đan lát mây tre Thủy Lập (Quảng Lợi) được UBND tỉnh công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống cấp tỉnh.

Theo Minh Tích

Kỳ thú Hải Vân Sơn

Du Lịch Huế - "Bức trường thành" giữa đất cố đô Huế và thành phố đáng sống nhất nước ta - Đà Nẵng là đèo Hải Vân nổi tiếng.

"Vách ngăn" trời đất cắt ngang dãy Bạch Mã tuy không có gì lạ với lữ khách gần xa nhưng những bí mật kỳ thú của truyền thuyết lẫn với di tích còn lại không phải là điều dễ bóc tách.
Nếu đơn thuần vượt qua đèo Hải Vân để nhìn xuống hai bờ, một bên biển lặng một bên núi đá và thảng hoặc nhận lãnh cái cảm giác mát lạnh khác biệt của thời tiết thì không lấy gì làm khó. Hải Vân từng chứa đựng biết bao bí mật chính trị lẫn văn hoá đất cố đô và Chămpa tạo nên một huyền tích lạ.



Đệ nhất hùng quan nhìn từ xa.
Sính lễ Ô - Rí
Trước khi vượt đèo Hải Vân, chúng tôi nán lại trong một cái chòi nhỏ dưới chân đèo uống loại trà cung đình của Huế. Chút "trà dư" mà bất ngờ vì chủ quán, một cụ già lưng còng khiến chòm râu cứ như muốn quét đất, nhưng bất ngờ hơn khi biết cụ là hậu duệ vua Nguyễn. Cụ là Nguyễn Tử Nhạc từng làm việc trong Viện Viễn Đông Bác Cổ thời những năm 1957 khi Viện phải rời Hà Nội sang Campuchia.
Thế nên, lịch sử và chuyện dân gian về Hải Vân Sơn cụ rành lắm. Cụ Nhạc cứ tiếc nuối mãi khi dự án hầm Hải Vân được đánh giá là dài nhất Đông Nam Á được xây dựng. Chẳng biết lý do khiến cụ tiếc nuối là gì nhưng cụ Nhạc bảo, cái thế phong - thủy - sơn của đất này bị vỡ bởi đường hầm. Theo lời cụ Nhạc, đèo Hải Vân giờ chẳng mấy ai qua, gần như kỳ quan đã bị quên lãng.

Lô cốt thời Pháp thuộc trên đỉnh đèo Hải Vân.

Theo hiểu biết khi cụ Nhạc làm trong Viện Viễn Đông Bác Cổ thì cái tên Hải Vân là tên mới, chứ tên cũ là Ải Vân hoặc đèo Mây vì quanh năm mây phủ. Đèo dài đúng 20 cây số và là mảnh đất đẹp nhất của đất Ô - Rí xưa.
Giọng khàn đặc cứ nhịp điệu chầm chậm, cụ Nhạc kể: Đèo Hải Vân ngày trước thuộc hai châu Ô và Rí của Vương quốc Chămpa. Khi vua Chămpa tên là Chế Mẫn mê mẩn công chúa Huyền Trân thì mới cắt đất và biến Hải Vân thành ranh giới hai nước từ năm 1306. Ngày xưa, người địa phương gọi Hải Vân là sính lễ Ô - Rí.
Đường quốc lộ 1A đoạn qua Hải Vân cũng có cái tên khác là đường Cái Quan. Dân hai vùng hầu như không dám sống gần đèo Hải Vân vì thời đó, khu vực này rất phức tạp bởi những nhóm phỉ chuyên đi cướp bóc. Và hơn thế nữa là thú dữ như hổ báo nhiều vô kể. Mãi đến thời Pháp thuộc, khi đường sắt được xây dựng chạy qua thì người dân mới dám đến lập nghiệp.




Cận cảnh đệ nhất hùng quan.
Đệ nhất hùng quan
Đèo Hải Vân không hiểm trở bằng tứ đại đỉnh đèo là Ô Quý Hồ, Pha Đin, Khau Phạ hay Mã Pì Lèng nhưng lại nổi tiếng hơn tất thảy bởi có "thiên hạ đệ nhất hùng quan" đến nay vẫn còn sừng sững giữa đỉnh đèo cheo leo như cổng trời.
Thiên hạ đệ nhất hùng quan thực chất là một cửa ải mang tên Hải Vân Quan được xây từ thời nhà Trần. Trong một số tư liệu còn ghi lại thời gian nhà Trần xây dựng và cung cách nhà Nguyễn trùng tu lại. Hiện trạng ấy đến nay vẫn được giữ khá nguyên vẹn.
Cửa trông về phủ Thừa Thiên có đề ba chữ Hải Vân Quan, cửa trông xuống Đà nẵng đề "Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Đây là danh xưng do vua Lê Thánh Tông phong tặng khi dừng quân tại đây vào năm 1470. Sách Đại Nam thực lục chính biên cũng có ghi chép khá tỉ mỉ: "Cửa trước cao và dài đều 15 thước, ngang 17 thước 5 tấc, cửa sau cao 15 thước dài 11 thước, ngang 18 thước 1 tấc, cửa tò vò đều cao 10 thước 8 tấc, ngang 8 thước 1 tấc. Phía tả hữu cửa quan, xếp đá làm tường, trước sau tiếp nhau. Phái biền binh 4 đội Hữu sai và 2 đội Ứng sai chở súng ống đến để đấy. Chuẩn định từ Hải Vân trở ra Bắc thuộc quản hạt Thừa Thiên, từ ngoài Hải Vân trở vào Nam thuộc quản hạt Quảng Nam".
Đến nay, "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" đã trở thành một di tích đặc biệt. Điều lạ nữa là, lượng khách du lịch ở đây gần như rất ít người Việt, mà chủ yếu là khách Tây hoặc Hàn Quốc. Họ ngắm nghía không biết chán và cảm nhận đó như một kỳ quan lạ của thế giới.




Vịnh ngọc - nơi xuất hiện thủy quái hoá rồng.
Cá ăn hoa ngãi... hoá rồng
Từ trên đèo Hải Vân nhìn xuống sẽ thấy một vịnh ngọc đẹp như tranh vẽ. Nhưng câu chuyện về vịnh ngọc này còn là một bí ẩn liên quan đến loài cá hoá rồng vì ăn được loài hoa lạ.
Chuyện này do một hoà thượng là Thích Đại Sán khám phá ra và tâu bẩm lại cho chúa Đàng Trong là Hiển Tông hoàng đế Nguyễn Phúc Chu. Tuy nhiên, theo những cao niên sống ven đèo Hải Vân thì không phải loài cá nào cũng có thể hoá rồng khi ăn được "hoa ngãi".
Những loại cá được cho là hoá rồng khi ăn "hoa ngãi" ở Hải Vân Sơn là Bạch ngư. Loài cá này từng được vua Minh Mạng ban tên là Nhân ngư. Thậm chí, sử sách còn ghi lại câu chuyện đầy màu sắc liêu trai rằng, lấy mỡ của loại cá này thắp đèn, chiếu vào chỗ cờ bạc thì tối, chiếu vào chỗ đọc sách thì sáng. Điều ấy khác hẳn với mỡ một số loại cá khác khi "ăn hoa hoá rồng".




Thủy quái Makara tại Bảo tàng điêu khắc Chăm - Đà Nẵng (tư liệu của bảo tàng).
Theo các cao niên ở Hải Vân, loài cá hoá rồng này thường hay xuất hiện ở vịnh ngọc. Tuy nhiên, khi chúng tôi hỏi đã ai nhìn thấy hay chưa thì tất cả đều khẳng định là chưa nhìn thấy. Thậm chí, người ta cũng chẳng biết loại "hoa ngãi" là hoa gì, chỉ có thể giải thích là hoa của một loại ngải dùng để yểm bùa. Loài ngải này chỉ có công dụng khi sống ở những nơi thâm sơn cùng cốc nhiều âm khí. Đó là trong các ngách đá của Hải Vân Sơn. Khi hoa của loại ngải này rơi xuống biển, loài cá có "duyên cơ" ăn vào sẽ hoá rồng.
Chuyện xa xưa chẳng biết thế nào, không xác định được là đúng hay sai. Nhưng về loài cá hoá rồng được coi là thủy quái dưới chân Hải Vân Sơn bên vịnh ngọc thì cho đến nay còn nhiều bí mật. Một trong những bí mật ấy, hiện được trưng bày trong bảo tàng điêu khắc Chăm - Đà Nẵng. Loài thủy quái này có tên Makara với biết bao những huyền thoại được thêu dệt suốt 20 cây số kéo dài từ đầu đến cuối đèo Hải Vân.
Thủy quái Makara hóa rồng với hình dạng: Mình và chân sư tử, đuôi của rắn Naga. Lòng hai bàn chân trước mở ra như tay người, hai chân sau giấu dưới bụng. Đầu Makara có bờm tóc cứng, miệng có hai răng nanh dài nhọn chìa ra ngoài, hai hàm răng nhiều chiếc nhô ra, miệng có lưỡi uốn cong lên phía trên hàm, hai tai thể hiện thành hình chiếc lá mềm mại.
Theo Quách Hoà

Thursday, April 23, 2015

Ngôi làng cổ trong lòng thành phố Huế

Du Lịch Huế - Dù nằm giữa thành phố Huế, nhưng Thủy Biều lại mang dáng dấp của một làng quê yên bình với khu vườn thanh trà ngát hương và những ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi.

Phường Thủy Biều, TP Huế ngày nay là sự hợp nhất của hai làng cổ thời xưa là Nguyệt Biều và Lương Quán. Thủy là nước, Biều là cái bầu nên có thể hiểu nôm na Thủy Biều tức là cái Bầu Nước. Phải chăng tên gọi này xuất phát từ vị trí ba mặt Thủy Biều đều được bao bọc bởi dòng sông Hương thơ mộng?

Với vị trí ấy, có lẽ không nơi đâu trong thành phố Huế có được may mắn tiếp cận dòng sông Hương từ nhiều góc độ mà đẹp và lạ như ở Thủy Biều. Lên đồi Vọng Cảnh - ngọn đồi nằm giữa khúc uốn sông Hương sẽ mang đến cho bạn góc nhìn tuyệt đẹp về thiên nhiên trữ tình xứ Huế. Từ đây nhìn sang bên kia sông là điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ và cầu Tràng Tiền.

Cách trung tâm thành phố khoảng 4 km về phía tây nam, phường Thủy Biều ngày nay còn lưu giữ được nhiều công trình kiến trúc cổ, độc đáo, trong đó phải kể đến đấu trường Hổ Quyền Voi Ré. Trải qua 183 năm, đấu trường có dáng hình vành khăn này vẫn còn nguyên vẹn với thành trong, thành ngoài, khán đài, cổng vào và bậc đá, khiến du khách đến thăm có thể hình dung phần nào về những trận đấu sống còn giữa voi và cọp năm xưa.

Nhưng điểm nhấn ở Thủy Biều có lẽ là hệ thống nhà rường cổ hơn 100 năm tuổi. Đây là loại nhà có nhiều rường cột, rường kèo và trong không có vách ngăn với lối kiến trúc theo chữ Đinh, Khẩu hoặc Công. Đa số ngôi nhà rường ở Huế được đặt về hướng nam, làm từ gỗ kiền, gõ hoặc mít rừng.



Nhà rường là kiến trúc tiêu biểu ở Huế. Ảnh: sotaydulich

Là nét kiến trúc tiêu biểu của Huế nên đến với Thủy Biều bạn sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng các hình mây cuộn, hoa lá hoặc đường diềm trang trí chạm trổ tinh vi trên các đòn, kèo, xà, cột như họa nổi.

Để chống lại khí hậu khắc nghiệt miền Trung, những ngôi nhà rường ở Huế được lợp bằng ngói liệt, với hai lớp dày chồng lên nhau. Nhờ vậy, mùa hè mát mẻ còn mùa đông thì ấm áp. Mái nhà có độ dốc lớn nên chống được những cơn bão mà không hề bị sụt ngói. Bịnh dị, đơn sơ nhưng bất kể ai bước vào nhà rường ở Huế cũng dễ dàng nhận thấy kiến trúc vững chắc, thiết kế tiện nghi của mỗi ngôi nhà, đặc biệt là không thể thiếu sân vườn trước mặt.

Các khu vườn ở Thủy Biều gần như không rào, chỉ có những hàng cây xén thấp phân định vườn nọ với vườn kia như một ý nghĩa tượng trưng. Trong các loại cây trái ở đây, hấp dẫn nhất là cây thanh trà – một loại bưởi đặc sản của Huế.

Bưởi thanh trà tuy không to và nặng nhưng róc vỏ, có vị ngọt thanh và không có dư vị đắng khi uống nước sau ăn. Dẫu chỉ thu hoạch một mùa nhưng quanh năm bưởi thanh trà mang đến cho làng quê ở Thủy Biều những vẻ đẹp khác nhau.



Thanh trà từ lâu đã trở thành đặc sản ở Huế. Ảnh: thuathienhue.gov.vn

Mùa xuân là màu trắng xóa của những chùm hoa bưởi ngát hương, mùa hè là màu xanh mơn mởn của những trái bưởi non. Thu đến, Thủy Biều mời gọi bằng những cây thanh trà trĩu quả, vươn cành phủ rợp đường làng, lủng lẳng, đong đưa trên đầu du khách. Đông về, cây ấp ủ chờ nắng xuân chiếu rọi.

Vào bất cứ thời điểm nào, chỉ cần bước vào những khu vườn trồng thanh trà nổi tiếng ở Thủy Biều, du khách đều có thể đắm mình trong không khí mát rượi, thanh bình của làng quê xứ Huế. Và sẽ chẳng thể nào quên được nếu bạn được một lần cảm nhận hương vị thơm, ngọt, mát của giống thanh trà trứ danh.

Đến Huế, hãy dành thời gian ghé lại Thủy Biều để được hòa mình vào khung cảnh thơ mộng với những con đường làng rợp bóng cây, điểm xuyết những mái ngói, những ngôi nhà rường cổ kính, yên bình cư ngụ trong một thiên nhiên xanh rờn hoa trái.

Theo Vy An

Cuộc sống nơi đầm Chuồn

Du Lịch Huế - Nằm cách Huế hơn 10 km, đầm Chuồn (hay còn gọi là đầm Cầu Hai) là một phần trong hệ thống đầm phá Tam Giang.

Đi qua quốc lộ 49, rẽ về hướng An Truyền, qua các cánh đồng thơm mùi lúa chín, đầm Chuồn hiện ra đầy sự bình yên.


Từng chiếc ghe máy chở cá về bờ khuấy động cả bầu không khí tĩnh mặc buổi sớm.


Thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, hàng ngày gắn liền với đầm phá và những con thuyền từ khi còn bé.


Ở đầm Chuồn, nhiều thuyền đánh cá cũng là nơi cư ngụ của gia đình. Cả nhà chung sống trên thuyền, quanh năm lênh đênh trên mặt nước.


Đi chợ sớm ở đầm Chuồn là công việc hàng ngày để mưu sinh của những người dân nơi đây.


Phong cảnh nơi đây tuyệt vời hơn cả là vào mỗi sáng sớm hay buổi chiều tà với những mảng màu đa sắc.


Những đứa trẻ nô đùa với nhau cùng con nước đầm Chuồn.

Theo Vũ Hoàng Kiều My

Thức dậy làng nghề dệt thổ cẩm

Du Lịch Huế - A Lưới là huyện miền núi phía tây dãy Trường Sơn thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ở đây, gần 75% số dân là đồng bào dân tộc Tà Ôi, đời sống của bà con còn nhiều khó khăn, vất vả. Khi con đường lên A Lưới được đầu tư xây dựng giúp bà con đi lại thuận tiện, nghề dệt thổ cẩm truyền thống ở đây có cơ hội phát triển, tạo công ăn việc làm, ổn định cuộc sống.


Phụ nữ Tà Ôi gắn bó và phát huy nghề dệt truyền thống.

Ðối với người Tà Ôi, vải thổ cẩm (gọi là zèng) được xem là sản phẩm văn hóa tiêu biểu. Có một thời, nghề truyền thống này bị xem là phương thức sản xuất lạc hậu, chỉ phục vụ cho nhu cầu may mặc của người dân địa phương, không được khuyến khích và chú ý bảo tồn. Một bộ phận người dân A Lưới vẫn giữ phong tục sử dụng sản phẩm dệt zèng như áo, khố, khăn, tấm treo, gùi... nhưng chỉ phục vụ cho bản thân và gia đình.Từ ngày tuyến đường lên A Lưới được đầu tư mở rộng, thuận tiện cho giao lưu hàng hóa, người dân Tà Ôi tìm cách tiêu thụ sản phẩm từ nghề dệt zèng đưa ra các tỉnh lân cận. Huyện xây dựng chương trình lập dự án khôi phục nghề dệt zèng ở các xã Hương Lâm, A Ðớt, Nhâm, thị trấn A Lưới và A Roàng. Ngoài ra, dự án phát triển du lịch Mê Công tại Thừa Thiên - Huế đã phối hợp với Công ty Ella Viet tiến hành các hoạt động tư vấn thiết kế mẫu theo nhu cầu thị trường, hướng dẫn thợ dệt tiếp cận với các chất liệu, kỹ thuật để nâng cao tính ứng dụng của sản phẩm. Kể từ đó, hầu như nhà nào ở các xã này cũng trở lại với nghề dệt zèng.

Chị Kăn Tranh ở xã A Roàng cho biết: "Mỗi tháng gia đình mình làm được 20 tấm vải zèng, trung bình một tấm bán 300 nghìn đồng đến 1,5 triệu đồng. Mình quyết tâm làm giàu từ zèng đến độ thế chấp cả ngôi nhà để vay được tiền mua nguyên liệu dự trữ. Một năm hai lần, chồng mình lại gùi zèng vào Quảng Nam, Ðà Nẵng bán, một chuyến thu về cả chục triệu đồng. Rất nhiều gia đình ở đây nhờ dệt zèng nên không còn đói nghèo, làm được nhà, nuôi các con ăn học đàng hoàng". Nhờ có nhu cầu của thị trường cho nên các sản phẩm làm từ zèng trở thành hàng hóa "bán chạy", đáp ứng cuộc sống bà con.

Hiện ở huyện miền núi A Lưới đã có ba tổ hợp dệt zèng được thành lập ở các xã Phú Vinh, A Ðớt và thị trấn A Lưới, với gần 100 phụ nữ tham gia. Ðồng bào các dân tộc Cà Tu, Pa Kô, Vân Kiều, Pa Hy trên địa bàn A Lưới cũng đang học hỏi, phát triển nghề dệt zèng. Ngoài bán cho các địa phương truyền thống như Nam Ðông (Thừa Thiên - Huế), Ðông Giang, Tây Giang (Quảng Nam), Hướng Hóa, Ðakrông (Quảng Trị)..., sản phẩm zèng của A Lưới đã và đang được xuất khẩu thường xuyên ra nước ngoài theo đơn đặt hàng. Ngoài ra, đây cũng là địa điểm mà khách du lịch trong và ngoài nước muốn dừng chân để tham quan, mua sản phẩm khi đến A Lưới. Anh Nguyễn Văn Bình, du khách ở TP Hồ Chí Minh thích sản phẩm thổ cẩm của đồng bào Tà Ôi, bởi lẽ, "các công đoạn sản xuất thủ công truyền thống kết hợp yếu tố hiện đại, bắt mắt nhưng đậm nét văn hóa của dân tộc. Mỗi tấm zèng là một tác phẩm văn hóa, nghệ thuật hoàn chỉnh với những hoa văn trang nhã, phong phú và tinh xảo", anh Bình bày tỏ.

Sở dĩ zèng của A Lưới được tiêu thụ mạnh là nhờ chất lượng tốt và mang tính sáng tạo rất cao. Thổ cẩm gắn các họa tiết gam mầu đỏ, trắng, vàng, đen, xanh lá cây. Ðể dệt được những chiếc zèng vừa dài, vừa đẹp, rực rỡ hoa văn, thổ cẩm đòi hỏi người dệt phải yêu nghề, cẩn thận, tỉ mỉ theo từng sợi vải, hạt cườm.

Nét độc đáo và riêng biệt của dệt zèng là người dệt sẽ đưa cườm trực tiếp vào sản phẩm để dệt thay vì đính kết lên. Ðây là cách tạo hoa văn duy nhất bằng cườm, không tạo hoa văn bằng chỉ màu như dệt thổ cẩm ở các nơi khác. Chị Nguyễn Thị Thanh Thủy, tư vấn thiết kế zèng cho biết: "Chúng tôi cố gắng giữ lại màu sắc, hoa văn để các sản phẩm giữ được bản sắc truyền thống của dân tộc. Các sản phẩm được dùng sợi làm bằng tre và nhuộm gần như thủ công để tạo mầu sắc đỏ chu, đen chàm ngày xưa và hoàn toàn không dùng màu công nghiệp".

Mục tiêu của huyện A Lưới là xây dựng các dự án duy trì nghề thổ cẩm, phát huy giá trị văn hóa và phát triển kinh tế hộ gia đình. Ðây cũng là một trong những cách đáp ứng được nguyện vọng của nhiều phụ nữ muốn thoát nghèo bằng chính nghề truyền thống của dân tộc Tà Ôi. A Lưới cũng đã có chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo, tập huấn kỹ thuật, sản xuất những mặt hàng phục vụ nhu cầu thị trường hàng hóa cho những người làm nghề dệt zèng. Trải qua những thăng trầm của lịch sử và sự phát triển của đời sống xã hội, nghề dệt zèng của người Tà Ôi vẫn tồn tại đến ngày nay, góp phần đưa nghề thủ công truyền thống của các dân tộc thiểu số trong cả nước nói chung và Thừa Thiên-Huế nói riêng phát triển.
Theo bài và ảnh: NGUYỄN CÔNG

Đông Ba - nơi hồn Huế cư ngụ

Du Lịch Huế - Có thể khẳng định, quá trình đô thị hoá của Huế, chợ Đông Ba chính là hạt nhân, là linh hồn. Bên cạnh vai trò là trung tâm thương mại quan trọng bậc nhất, với Huế, chợ Đông Ba còn là một phần lịch sử...



Chợ Đông Ba hiện nay

Mênh mang hoài niệm…
“Chiều mưa trên Kinh đô Huế/ Tiếng mưa còn vương kỷ niệm/ … Chợ Đông Ba khi mình qua / Lá me bay bay là đà…- Giữa cơn mưa rả rích của chiều đông xứ lạ, tiếng nhạc nhà ai vọng ra, lòng bỗng quay quắt nhớ Huế, nhớ Đông Ba. Ước chi được mọc đôi cánh, mình sẽ bay về sông Hương núi Ngự, rủ lũ bạn học năm xưa cùng ùa ra chợ Đông Ba mần một chầu bún bánh cháo chè cho thoả thích…”. Đọc mấy dòng tâm sự của cô bạn thời phổ thông hiện về trên máy mà thương ơi. Tôi gõ vào bàn phím: “Ừ, thì cứ về đi. Không giàu, nhưng mình cũng đủ sức đãi bạn một chầu hàng quán Đông Ba tới bể bụng. Về đi, khi mô cũng được. Huế chờ…”. Rồi như vô thức, tôi search “Mưa trên phố Huế”. Tiếng nhạc liu riu, buồn buồn, đưa tôi về với miền ký ức một thuở.
Ngày còn nhỏ tôi được ba tôi “đặc cách” cho về sống với ông bà nội. Là cháu đích tôn nên tôi được bà nội cưng còn hơn…cưng trứng. Đi đâu cũng được bà mang đi như hình với bóng. Cũng như mấy bà già Huế xưa, với nội tôi, chuyện cúng kiếng kỵ giỗ là cái gì đó vô cùng linh thiêng hệ trọng. Thế nên, tôi cứ được theo bà đi giỗ đi chạp hoài. Cứ mỗi lần như thế, bà dắt tôi ra bến xe An Cựu (chỗ Big C bây giờ), lên xe lam qua Đông Ba. Hai bà cháu vô chợ mua bánh trái rồi lại tiếp tục hành trình. Chợ Đông Ba với tôi hồi ấy sao mà mênh mông thế. Vàng bạc, vải vóc, áo quần, giày dép, thúng mủng, rau củ, gia vị, mắm ruốc, cá tôm, đồ chơi trẻ con, …Ôi là vô thiên lủng. Cậu bé tôi ngày ấy lúc thúc theo bà mà cứ như lạc vào thế giới cổ tích ấm no, đủ đầy, thoả thích. Thích nhất là ngang qua hàng trái cây. Nho, táo, mãng cầu, măng cụt, thanh long, quýt cam, bưởi bòng, thanh trà, đu đủ, dưa hấu… ngồn ngộn, thơm tho và đầy mê hoặc… Thoắt cái mà đã mấy mươi năm. Bà nội tôi đã ra người thiên cổ, còn cậu bé tôi ngày ấy thì cũng đã xấp xỉ cái tuổi “tri thiên mệnh” mất rồi. Nhưng chợ Đông Ba của Huế tôi thì vẫn còn đó. Vẫn là nỗi nhớ, vẫn là bến đợi làm thổn thức con tim của bao người con xứ sở…
Chứng nhân lịch sử
Tính đến năm 2014 này, chợ Đông Ba tròn 115 tuổi. Đó là nói thời gian kể từ lúc chợ đứng chân tại vị trí hiện nay, chứ nếu tính từ lúc hình thành thì Đông Ba đã có tuổi đến già 2 thế kỷ. Sử liệu cho hay, ngôi chợ danh tiếng này của Huế đã xuất hiện từ thời Gia Long. Thoạt tiên, chợ tọa lạc bên ngoài cửa Đông Ba (Cửa Chánh Đông) và mang tên là chợ Quy Giả (Chợ của những người trở về). Biến cố “Thất thủ kinh đô” năm 1885, chợ bị đốt sạch. Năm 1887, vua Đồng Khánh cho xây dựng lại và đổi tên thành chợ Đông Ba. Ðến năm 1899, trong công cuộc chỉnh trang đô thị theo phong cách phương Tây, vua Thành Thái cho chuyển chợ Ðông Ba ra địa điểm ngày nay. Đình chợ cũ trở thành trường Pháp Việt Ðông Ba. Bây giờ là vườn hoa Đông Ba. Theo mô tả, chợ Ðông Ba thời Thành Thái gồm 4 dãy quán: trước, sau, phải, trái. Mặt trước một dãy 8 gian, mặt sau một dãy 12 gian, dãy phía tay phải 13 gian... đều lợp ngói; giữa chợ có một toà lầu vuông, ba tầng, tầng dưới xây tường 4 mặt, mỗi mặt có trổ 2 cửa, tầng trên 4 mặt đều có cửa và đều có đồng hồ để điểm giờ. Trong chợ có một giếng đá mà theo mô tả để lấy nước thì có hệ thống “máy” giúp đỡ. Khi cần, dùng tay quay máy, nước trong giếng sẽ tràn lên, phun ra. (Hiện giếng nước vẫn còn và được UBND thành phố Huế, Sở VH-TT & DL cho tôn tạo, lưu giữ như một di tích). Đến đầu thế kỷ XX, chợ Đông Ba được tu sửa nhiều lần nhưng vẫn giữ cốt cách cũ. Mười hai năm sau ngày đất nước thống nhất (1975), năm 1987, chợ được đầu tư nâng cấp, cải tạo quy mô lớn. Công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng ngày 02-9-1987 hoành tráng, rạng rỡ không thua kém ngôi chợ nào trong Nam ngoài Bắc.
Có thể khẳng định, quá trình đô thị hoá của Huế, chợ Đông Ba chính là hạt nhân, là linh hồn. Bên cạnh vai trò là trung tâm thương mại quan trọng bậc nhất, chợ Đông Ba còn là “chứng nhân”, là một phần lịch sử của Huế, “là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất, kiên cường trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngay từ khi mới thành lập tiểu thương chợ Đông Ba đã tích cực hưởng ứng các phong trào đấu tranh chống sưu thuế, chống bắt lính, ủng hộ hoạt động của các nhà yêu nước... Từ 1954 đến 1975 lực lượng tiểu thương chợ Đông Ba đã tham gia, tổ chức 255 cuộc biểu tình, xuống đường, sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân, trí thức, học sinh, sinh viên đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai... Nhiều tiểu thương đã trưởng thành và trở thành những cán bộ kiên cường của cách mạng, nhiều chị là cơ sở bí mật, nuôi giấu cán bộ, nhiều chị đã anh dũng hy sinh trong các cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù... Những đóng góp của chị em tiểu thương chợ Đông Ba tô điểm thêm truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc…” (Dư địa chí Thừa Thiên Huế).
Lấp lánh cổ xưa …
Bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển, như nhiều địa phương khác, tại Huế cũng xuất hiện ngày càng nhiều, càng quy mô những siêu thị, những trung tâm mua sắm, những cửa hàng cửa hiệu sang trọng, tiện ích, song không gì có thể thay thế được chợ Đông Ba, bởi Đông Ba đã mặc định một vị trí rất riêng trong thẳm sâu tâm khảm của mỗi người con xứ Huế. Tác giả Lê Vũ Trường Giang khi viết về chợ Đông Ba đã nhận xét có tính khái quát nhưng rất thú vị: Chợ Đông Ba là một trong những biểu tượng của vùng văn hóa Huế, lưu giữ độc quyền những giá trị truyền thống, là gallery của vô số sản vật vùng đất, là pho từ điển tiếng Huế sống động, là kho tàng của những chuyện Huế mãi tồn lưu trong trí nhớ các mệ, các o, chị em tiểu thương… Chỉ một lần ghé chợ Đông Ba, sẽ bắt gặp cả hồn Huế cư ngụ nơi đây.
“Đông Ba vẫn đó người ơi/ Bên bờ Hương ngóng phương trời xa xăm…” Một trăm mười lăm năm đã trôi qua, mặc bao biến thiên lịch sử, chợ Đông Ba vẫn vẹn nguyên, vẫn duyên dáng soi mình bên dòng Hương bao dung. Như Huế- miền đất “xưa nhưng không bao giờ cũ”, chợ Đông Ba cũng vậy, như một món cổ vật, càng chất chồng thời gian càng quý, càng lấp lánh và càng mê hoặc. Bởi một lẽ giản đơn, chợ Đông Ba đã, đang và mãi sẽ vẫn là một phần cốt cách, linh hồn xứ Huế…
Theo Hiền An

Qua đèo Phước Tượng, ngát hương dầu tràm

Du Lịch Huế - Đi dọc Việt Nam, nếu ai đã từng qua cung đường nối giữa Thành phố Đà Nẵng và Thừa Thiên - Huế, chắc sẽ lại nhớ câu thơ “một đèo, một đèo, lại một đèo”. Sở dĩ câu thơ của Hồ Xuân Hương xưa cứ “găm” vào đầu là bởi suốt chiều dài của Quốc lộ 1A nối hai đầu Nam - Bắc thì đây là tuyến đường có nhiều đèo nhất.



Đèo Phước Tượng

Ba con đèo ấy, nếu không kể đến đèo Hải Vân với danh hiệu “Đệ nhất hùng quan” và đèo Phú Gia thấp đến mức không hẳn gọi là đèo thì còn một đèo nữa từng nổi tiếng là “điểm đen nguy hiểm” của những lái xe của đường dài, cũng là khúc đèo đầy lãng mạn với hương dầu tràm vương theo tay lái và phong cảnh nên thơ nếu vượt đèo theo hướng từ Nam ra Bắc. Đó là đèo Phước Tượng.

Đèo Phước Tượng và đèo Phú Gia, trên Quốc lộ 1A, đoạn tiếp giáp giữa hai xã Lộc Trì (phía bắc của đèo) và Lộc Thủy (phía nam của đèo) thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Nếu ai muốn cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn, bình dị của đèo Phước Tượng thì sẽ phải đi theo hướng Nam – Bắc. Bởi khi qua khỏi đỉnh đèo, hướng về phía Bắc có thể ngắm nhìn toàn cảnh đầm Cầu Hai phía bên phải và núi Bạch Mã ở bên trái. Phía nam, chặng đường chừng 10 cây số nối với đèo Phú Gia ngây ngất hương thơm dầu tràm, đây là nơi sản xuất dầu tràm nổi tiếng ở Thừa Thiên – Huế.

Đèo Phước Tượng không hung hiểm như những con đèo Tây Bắc, cũng không hùng vĩ như Hải Vân, không dài như Pha Đin, như Ô Quy Hồ… Phước Tượng thấp hơn, nhỏ hơn với chặng đường ngắn nhưng hẹp với độ dốc nghiêng khá lớn. Đổ đèo hướng Bắc, trong một không gian xanh thẳm rừng Bạch Mã và một bên đối diện nước trời đầm Cầu Hai. Những tay lái rất dễ thả trôi tâm trí theo cảm xúc mà quên mất con đường phía trước vẫn đang vòng vèo, nguy hiểm. Đứng trên đèo Phước Tượng mà phóng mắt về phía đầm nước biếc xanh. Những chiếc thuyền cong như những chiếc lá khô màu xám bồng bềnh trên mặt nước lóng lánh soi bóng mây trời. Con đường dưới chân đèo như nét kẻ dọc chia hai nửa không gian, bên núi bên đầm. Những xóm chài nhỏ bên đầm bình dị tô điểm cho bức tranh thiên nhiên và con người thêm phần sinh động, đáng yêu.

Tới đây, khi đường hầm xuyên đèo Phước Tượng, đèo Phú Gia hoàn thành, chắc sẽ chỉ còn những người yêu thiên nhiên, đam mê khám phá những cung đường xê dịch, những ai có hứng thú với việc ôm cua, bẻ lái, đổ đèo mới đi qua tuyến đèo này. Chắc chắn rằng đèo Phước Tượng khi ấy sẽ là điểm đến của những tay “xê dịch” miền Trung, bởi trên đèo, những hiểm nguy của cung đường từng được mệnh danh là “điểm đen” tai nạn giao thông sẽ không còn nữa. Chỉ còn lại những bước chân khám phá, những đôi mắt tò mò soi vào bao la phong cảnh thiên nhiên, đất trời đẹp như một bức tranh.

Theo Vũ Thanh

Wednesday, April 22, 2015

Đàn Nam Giao – giá trị văn hóa đặc sắc của triều Nguyễn

Du Lịch Huế - Ba giờ sáng, tại Đàn Nam Giao (Thừa Thiên Huế), không còn nghe tiếng hô đức vua xa giá, chỉ có âm thanh rì rầm dội vào rừng thông và những ánh mắt hướng về linh vị đặt trên bàn thờ. Những người dân đến Đàn Nam Giao để nguyện xin sự viên mãn, gia đình bình an.




Viên Đàn, nơi cao nhất của Đàn Nam Giao tượng trưng cho bầu trời.

Tế trời đất, mong mưa thuận, gió hòa

Điểm nhấn trong quần thể những di tích còn được lưu giữ ở cố đô Huế, đó là Đàn Nam Giao, ở phường Trường An. Đàn Nam Giao là nơi bậc quân vương hằng năm tổ chức lễ tế giao, tức tế trời đất, nhằm khẳng định vị thế của vua tuân theo mệnh trời cai trị thần dân và cầu xin các thần gia ân, gieo mưa thuận gió hòa, cho nhiều lúa gạo, không có dịch bệnh và mọi người đều được yên bình, hạnh phúc.

Thời xưa, lễ tế giao thường được tổ chức vào tháng hai hoặc tháng ba âm lịch. Năm 2014, lễ tế giao được tổ chức vào cuối tháng 4, nhân kỷ niệm Ngày giải phóng Thừa Thiên Huế (26/3/1975 – 26/3/2014).
Trong màn đêm, hương khói quyện vào sương mờ phả lên không gian. Trên chính điện, ba con dê, lợn, trâu đã được thui vàng và đặt nguyên con trên bàn thờ. Dưới bàn thờ là sáu bàn dâng rượu, nước; tiếp đến là dãy nhạc bát âm với trống, chiêng, đàn, kèn; đứng bái là 21 người trong ban chánh tế. Năm nay, ông Nguyễn Ngọc Thiện, Bí Thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế làm chủ lễ.

Buổi tế giao, chỉ những người trong Ban nghi lễ mới được bước qua 15 bậc thang để lên đỉnh cao nhất của Đàn, gọi là Viên Đàn. Đó là khoảnh sân hình tròn tượng trưng cho trời. Còn người đến dự thì chỉ được bước lên 7 bậc thang và đứng ở tầng dưới được gọi là Phương Đàn. Phương Đàn có hình vuông tượng trưng cho đất. Nguyên bản thì Phương Đàn tượng trưng được sơn màu xanh, Viên Đàn được sơn màu hoàng thổ, còn bậc cuối cùng tượng trưng cho người thì sơn màu đỏ.

Những bậc cao niên đứng tại bậc Phương Đàn, nét mặt trầm tư. Bà Yến, 78 tuổi cho biết, đến đây để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, con cháu bình an vô sự. Còn các cụ ông thì nói: Mỗi lần tế giao thì thế hệ con cháu lại nhớ đến người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã dừng chân làm lễ tế trời đất, lấy hiệu là Quang Trung, sau đó tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh.

Đàn Nam Giao ở các Kinh đô nước Việt

Theo các nhà nghiên cứu, Huế có 4 địa điểm được xây dựng Đàn Nam Giao qua các đời. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), Đàn Nam Giao được xây dựng ở Kim Long, qua triều Tây Sơn (1788-1801), Đàn Nam Giao được xây dựng trên một ngọn đồi gọi là Hòn Thiên, dân gian thường gọi là núi Bân. Đến thời các vua nhà Nguyễn, năm 1803, Vua Gia Long cho xây dựng Đàn Nam Giao ở làng An Ninh, nhưng ba năm sau (năm 1806), nhà Vua lại cho xây dựng mới tại làng Dương Xuân.

Theo tài liệu, Kinh đô Thăng Long, Tây đô Thanh Hóa, cố đô Huế đều từng tồn tại Đàn Nam Giao. Nhưng đến nay, chỉ ở cố đô Huế là Đàn Nam Giao còn nguyên vẹn. Khi Hà Nội xây dựng cầu vượt qua di tích Đàn Xã Tắc, các nhà nghiên cứu đều phản đối mạnh mẽ. GS.TS, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền đã gay gắt nói: “Không nên vượt lên đầu tổ tiên. Đàn Xã Tắc là Đàn gắn với tổ tiên, gắn với trời đất?”. Còn Giáo sư Sử học Lê Văn Lan thì khẳng định: “Giữ gìn, bảo tồn Đàn Xã Tắc cũng chính là giữ gìn sơn hà, xã tắc”. Rõ ràng, Đàn Nam Giao giờ đây vẫn là niềm tôn kính của mọi người.

Đàn Xã Tắc tại Kinh đô Thăng Long được Vua Lý Thái Tông (năm 1048) xây dựng để tế hai vị thần quan trọng nhất là Thần Đất và Thần Nông. Bốn mùa, Vua đều chủ trì tế lễ để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt cho muôn dân. Còn Đàn Nam Giao nhà Hồ được Hồ Hán Thương xây dựng năm 1402, tại núi Đún Sơn, tỉnh Thanh Hóa, giờ đây đã thành phế tích, chỉ còn lại duy nhất Giếng Vua. Hiện nay, chỉ còn Đàn Nam Giao của nhà Nguyễn ở Thừa Thiên Huế là tương đối nguyên vẹn trên diện tích 10ha, được tổ chức UNESCO xếp vào danh mục 16 di tích có giá trị toàn cầu nổi bật, Di sản Văn hóa thế giới.

Thời xưa, nghi lễ tại lễ tế giao rất nhiều thủ tục như: Vua đốt lửa thui nghé, chôn vùi lông và huyết dâng ngọc và lụa, cúng sanh và thức ăn, đọc tuyên chúc, dâng rượu… Còn lễ tế giao bây giờ được tổ chức gọn, nhẹ. Ông Bí thư Tỉnh ủy làm chủ bái, thay mặt người dân gửi lòng thành kính đến các bậc tiên tổ đã có công xây dựng đất nước.

Nghi thức tế giao đã có nguồn gốc từ xã hội nguyên thủy, khi con người quan niệm các yếu tố tự nhiên như trời, đất, mưa, gió, sấm, chớp đều là những bậc thánh thần và cần phải thờ cúng. Đến thời quân chủ, giai cấp thống trị đã tiếp thu tín ngưỡng này, cải biến và lợi dụng nó như một thứ công cụ đắc lực để cai trị nhân dân.

Dựng Đàn, tiến quân ra Bắc

Năm 2006, lần đầu tiên Thừa Thiên Huế cho phục dựng lại lễ tế Nam Giao. Đến Festival năm 2008, Huế đã phục dựng thêm một lễ hội nữa là lễ Đăng quang của Hoàng đế Quang Trung tại núi Bân. Núi Bân là một thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp của Phú Xuân – Huế; đồng thời còn là một di tích lịch sử đặc biệt về người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ. Dấu tích Đàn Nam Giao trên núi Bân không còn. Hiện nay, tỉnh Thừa Thiên Huế đã dựng trên núi Bân tượng Hoàng đế Quang Trung cao 21m, trong đó, phần tượng cao 12m, phần đế cao 9m.

Vua Quang Trung đã chọn ngọn núi thấp để xây dựng Đàn Nam Giao. Quanh chân núi có khoảng không gian rộng để tập trung hàng chục ngàn thớt voi, ngựa và binh sĩ. Trên đỉnh đàn tế được tạo thành ba tầng hình nón cụt chồng lên nhau. Tầng một có chu vi 220m, độ cao 40,9m; tầng hai chu vi 123m, độ cao hơn 42m; tầng ba trên cùng bề mặt bằng phẳng có chu vi gần 53m, độ cao gần 44m. Đường lên Đàn Nam Giao theo 4 lối đi Bắc, Nam, Đông, Tây.

Lên núi Bân nhìn về 4 phương đều thấy bức phù điêu khắc Chiếu lên ngôi của Hoàng đế Quang Trung. Bên cạnh bức phù điêu là lời thề của Hoàng đế Quang Trung vang lên giữa ba quân trước khi tiến ra Bắc đánh tan 29 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Long. “…Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ…”.

Làng cổ xứ Huế 500 năm và bí quyết sống 'bách niên giai lão'

Du Lịch Huế - Một trong những nguyên nhân khiến nhiều người ở làng cổ Phước Tích sống “bách niên, giai lão” là do khí hậu lành, thịt cá sạch, rau củ trồng trong vườn tinh tươm. "Mỗi ngày ngủ 7 tiếng, ăn hai bát cơm", bí quyết trường thọ của người Phước Tích là vậy. Và đặc biệt, các cụ sống thọ đều là những người làm gốm nhiều năm.
Được hình thành cách đây hơn 500 năm, làng Phước Tích của xã Phong Hòa, huyện Phong Điền là vùng quê duy nhất ở tỉnh Thừa Thiên - Huế còn bảo tồn nhiều ngôi nhà rường cổ được xây dựng từ thời nhà Nguyễn.


Điều đặc biệt, chủ nhân của những căn nhà cổ “độc nhất vô nhị” này là những cụ già bách niên, nặng lòng bảo tồn di sản do cha ông để lại.

Làng... trường thọ

Một ngày đầu năm, khi ánh nắng ban mai xuyên qua những rặng lá từ tán cây thị cổ thụ nằm bên dòng sông Ô Lâu, cũng là lúc chúng tôi vượt gần 80 cây số đặt chân đến ngôi làng cổ Phước Tích.

Bên trong ngôi nhà rường lợp mái ngói liệt men, nền gạch vồ với những trụ gỗ cổ kính, cụ Nguyễn Thị Tư rót trà và kể cho những vị khách vừa ghé thăm nghe sự tích của ngôi làng cổ đã bước sang tuổi 544 này.

Theo lịch sử ghi lại, làng cổ Phước Tích hình thành vào năm 1470, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Nơi đây, những ngày đầu vào trấn giữ vùng đất Thuận Hóa, chúa Nguyễn Hoàng đã nhìn thấy “linh khí” ở vùng đất đắc địa được bao quanh bởi dòng Ô Lâu xanh thẳm nên đã cử quan quân về tiếp quản và lập làng.

Đặc biệt, với vị trí giao thương buôn bán thuận lợi, nhà Nguyễn đã cho xây dựng nhiều lò gốm lớn nhỏ ở đây. Từ đó, thương hiệu gốm Phước Tích trở nên thịnh hành ở nhiều vùng miền lúc bấy giờ.

Chúng tôi tìm đến nhà cụ Tư đúng vào dịp con cháu của cụ tổ chức lễ mừng thọ thứ 94 cho cụ. Dù đã ở cái tuổi gần đất, xa trời, nhưng cụ Tư vẫn còn rất minh mẫn, cười nói hào sảng và đặc biệt là những chuyện “ngày xửa, ngày xưa” cụ đều nhớ rất rõ. Cụ Tư nói rằng, hồi cuối năm 2014, có một đoàn du học sinh đến từ Pháp có buổi tham quan ở làng cổ Phước Tích.

Dù đã có hướng dẫn viên, nhưng khi vào tham quan nhà rường cổ của cụ, vị hướng dẫn viên này lại “bó tay” khi được du khách đề nghị giới thiệu về nhà rường bằng tiếng Pháp. Thế rồi, cụ Tư vừa chống gậy bước đến, vừa chỉ vào các bức vách, bức đố, liên ba... để mô tả bằng tiếng Pháp trước sự trầm trồ kinh ngạc của những vị khách nước ngoài. Té ra, cụ Tư thông thạo tiếng Pháp từ thời còn cắp sách tới trường và đến nay vẫn còn làu làu thứ tiếng này…

Theo chỉ dẫn của tấm bảng “home stay” (du lịch nghỉ lại tại nhà - PV), chúng tôi tiếp tục tìm đến ngôi nhà rường do cụ Lương Thanh Thị Hén làm chủ. Thật bất ngờ khi dù đã 98 tuổi nhưng cụ vẫn có thể quét dọn vườn tược.

Cụ Hén “bật mí” về bí quyết sống trường thọ rằng, mỗi ngày chỉ nên ngủ độ 7 giờ đồng hồ, mỗi bữa ăn 2 bát cơm và... phải lao động đều đặn. “Năm tui 95 tuổi, con cháu trong gia đình đã mua cỗ quan tài cho tui để phòng khi tui mất đột ngột. Thế mà không ngờ... tui vẫn sống khỏe đến tận hôm nay đấy!”, cụ Hén nhoẻn miệng cười để lộ hàm răng đen bóng.

Ông Trần Văn Nguyên, Phó Chủ tịch UBND xã Phong Hòa cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến nhiều người ở làng cổ Phước Tích sống “bách niên, giai lão” là do người dân được sống trong môi trường có khí hậu trong lành; thức ăn, thịt, cá đều được đảm bảo vệ sinh; nhất là rau, củ được gieo trồng, chăm bón trong vườn nhà, không bị lạm dụng thuốc trừ sâu hay thuốc tăng trưởng… Và đặc biệt, các cụ sống thọ đều là những người từng tham gia làm nghề gốm suốt nhiều năm trời.

“Hiện ở làng Phước Tích có trên 100 hộ dân, với 320 khẩu thì trong đó có trên 150 cụ già từ 70 tuổi đến 102 tuổi. Trong đó, những cụ vẫn còn khỏe như các cụ: Nguyễn Thị Diệp (102 tuổi); Nguyễn Thanh Thị Hén (98 tuổi); Nguyễn Bá Tự (90 tuổi); Nguyễn Thị Tư (94 tuổi); Lê Thị Thú (87 tuổi)... Dù tuổi đã cao nhưng nhiều cụ vẫn tích cực tham gia hoạt động văn hóa du lịch, giới thiệu về làng cổ và nhà rường cổ cho du khách”, ông Nguyên khẳng định.



Những ngôi nhà rường cổ hàng trăm năm tuổi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và văn hóa thời Nguyễn ở làng Phước Tích.

Nỗ lực hồi sinh nhà rường cổ

Theo lãnh đạo Sở VH, TT&DL tỉnh Thừa Thiên - Huế, để làng cổ Phước Tích giữ đúng nguyên trạng nhà rường cổ đến tận hôm nay, ngoài các phương pháp bảo tồn, còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức của mỗi hộ dân, vốn là chủ nhân của các căn nhà cổ.

Như chứng minh điều này, cụ Tư chỉ cho chúng tôi những chi tiết hoa văn được chạm khắc tinh xảo ở các kèo cột trong ngôi nhà rường rộng lớn rồi chậm rãi bảo:

“Nhờ nghề làm gốm mà cách đây gần 300 năm, dòng họ nhà tui mới có thể làm được ngôi nhà rường ba gian hai chái này đấy chú à. Tuy thời gian và bom đạn chiến tranh đã hủy hoại khá nhiều ngôi nhà rường cổ của làng. Đặc biệt, nhà tui và nhiều ngôi nhà khác từng bị bom Mỹ dội sập, chỉ còn trơ 4 trụ cột chỏng chơ nhưng dân làng vẫn quyết tâm dựng lại ngôi nhà rường. Trên hết là để bảo tồn di sản do bậc tiền nhân để lại”.

Tự hào công lao của người dân trong công tác phục dựng, bảo vệ nhà rường cổ, ông Hoàng Tấn Minh, Trưởng thôn Phước Tích còn cho hay: Tính đến thời điểm hiện tại, làng Phước Tích lưu giữ đến 34 ngôi nhà rường cổ từ 200-300 năm tuổi.

Điều đặc biệt là trong số này có đến 23 nhà rường do chính các hộ dân bỏ tiền túi của gia đình (từ 700 triệu đến 1 tỷ đồng - PV) để tu sửa, bảo tồn nhà cổ. Nhờ thế mà hệ thống nhà rường cổ ở Phước Tích vẫn còn giữ đúng nguyên trạng như xưa, ngoại trừ một số nhà bị xuống cấp, hư hỏng nặng đang chờ kinh phí tu sửa.

Điển hình như, gia đình bà Hồ Thị Nga (50 tuổi) đã bỏ tiền túi 1,1 tỷ đồng để tu sửa lại các hạng mục của ngôi nhà rường cổ trên 250 tuổi, gồm: bờ tường, lợp lại mói ngói liệt, làm cửa “thượng song hạ bản” bên ngoài và cửa “bản khoa” bên trong, chạm trổ hoa văn kèo cột...

Ông Nguyễn Hồng Thắng, Giám đốc Ban quản lý di tích làng cổ Phước Tích nhận định: “Trong khi nhiều ngôi nhà rường cổ ở Phước Tích phải chờ kinh phí từ các dự án mới có thể tu sửa thì nhiều hộ dân đã tự bỏ hàng trăm triệu đồng để tu bổ, phục hồi lại căn nhà rường cổ đúng nguyên trạng kiến trúc của kiểu nhà rường truyền thống”.

Đặc biệt, với mong muốn gìn giữ nghề xưa của cha ông để lại và phục vụ các đoàn khách du lịch, nhất là vào các kỳ festival nên nhiều cụ cao niên ở làng cổ Phước Tích còn đứng ra mở lớp dạy nghề làm gốm cho lớp trẻ ở địa phương.

Cứ mỗi sáng thứ 7 và chủ nhật hằng tuần, cụ Nguyễn Thị Thúy (80 tuổi) và Lương Thị Bê (76 tuổi) lại chống gậy đến cơ sở sản xuất gốm của làng để dạy nghề cho các em học sinh và những người trung niên đam mê nghề gốm.



Dù đã 98 tuổi nhưng cụ Nguyễn Thanh Thị Hén ở làng cổ Phước Tích vẫn rất minh mẫn.

Và nói như lời các cụ cao niên ở ngôi làng cổ này: “Nghề gốm đã nuôi sống con cháu làng Phước Tích, cũng nhờ có gốm mới “sản sinh” ra những ngôi nhà rường cổ... Vì thế cần phải giữ lấy nghề gốm cho bằng được dù nó đang đứng trước nguy cơ thất truyền”.

Theo Lê Anh