Tuesday, June 9, 2015

Hiển Lâm Các

Hiển Lâm Các là một công trình kiến trúc nằm trong quần thể di tích cố đô Huế được xây dựng vào năm 1821 và hoàn thành vào năm 1822 thời vua Minh Mạng. Hiển Lâm Các nằm trong khu vực miếu thờ trong hoàng thành Huế, cao 17m và là công trình kiến trúc cao nhất trong Hoàng Thành [1]. Đây được xem là đài kỷ niệm ghi nhớ công tích của các vua nhà Nguyễn và các quan đại thần có công lớn của triều đại.

Hiển Lâm Các được kiến trúc bằng gỗ cao tầng, xây dựng trên khối nền cao hình chữ nhật, lát gạch Bát Tràng, xây bó bằng gạch vồ, vôi vữa và đắp nổi mảnh sành để trang trí. Từ dưới bước lên mặt nền bằng hai hệ thống bậc cấp đá Thanh, ở trước và sau mỗi hệ thống có 9 cấp bậc. Hai bên thành bậc cấp đắp hình rồng ở giữa là giới hạn lối đi dành riêng cho vua.

Kiến trúc của Hiển Lâm các được chia làm 3 phần rõ rệt chia làm 3 phần mái chính. Tầng 1 có tất cả 5 gian, kiến trúc của tầng 1 được xem là sắc sảo với những bản điêu khắc đạt đến trình độ điêu khắc tinh xảo. Tại các cột, kèo của tầng 1, các bản điêu khắc có in hình rồng, hoa, lá có giá trị rất cao về mặt kiến trúc. Ở hàng cột 3 tính từ mặt trước, dựng một dãy đố bản, giữa mỗi gian trổ một cửa vòm. Các hệ thống kèo, liên ba, đố bản ở tầng này đều chạm nổi các mô típ hình rồng cách điệu hoá thành dây leo lá cuốn. Trên cửa giữa treo tấm hoành phi lớn đề ba chữ "Hiển Lâm Các" trên nền sơn màu lục, khung chạm 9 con rồng vờn mây sơn son thếp vàng.

Chiếc cầu thang nhỏ bằng gỗ được bắc lên tầng 2 được xem là một tác phẩm giá trị nhất của Hiển Lâm Các. Tầng 2 được chia làm 3 gian và tầng 3 chỉ có 1 gian. Trên cùng của tầng 3 có đựng một bình rượu màu vàng.

Kết cấu của kiến trúc Hiển Lâm Các khá vững chãi một phần nhờ vào sức chống đỡ của 24 cột. Độc đáo của Hiển Lâm Các nhất chính là công trình này được làm hoàn toàn bằng gỗ và có tất cả 12 mái, 4 cột chính chạy suốt chiếu cao của Hiển Lâm Các 13 m Diện tích mặt bằng Hiển Lâm Các là 300 m².
Tình trạng


Hiển Lâm Các là công trình đẹp và độc đáo của khu vực Hoàng Thành. Nó là công trình được bảo quản tốt và được trùng tu nhiều lần, lần mới nhất vào năm 2001 được xem là lần trùng tu hoàn chỉnh nhất. Cụm từ Hiển Lâm Các, Thế Miếu và Cửu Đỉnh là 3 cụm từ mà mọi người luôn nhắc liền nhau để cho thấy sự liên kết về mặt kiến trúc cũng như về công dụng, chức năng của các công trình này và là một tổng thể không thể tách rời, chính sự phối hợp với bố cục xung quanh cùng cảnh quan khiến cho giá trị của Hiển Lâm Các rất quan trọng.
[sửa] Tham khảo
Huế và di tích tham quan – Cùng bạn khám phá thế giới – sách ảnh hướng dẫn du lịch của Sapaco Tourist - trang 12 - xuất bản năm 2001
Nguyễn Hạnh – Trần Thị Thanh Nguyên – Nguyễn Duy Linh - Hiển Lâm Các đến Thế Miếu – Nhà Xuất Bản Trẻ - Năm xuất bản tháng 11 – 2006

Friday, May 8, 2015

Sông Hương – nét dịu dàng

Sông Hương - Huế không chỉ gắn với vẻ đẹp cổ kính của những đền chùa, thành quách, lăng tẩm... mà còn nổi tiếng với dòng sông Hương thơ mộng.


Cầu Trường Tiền duyên dáng bắc qua sông Hương

Gọi là sông Hương vì từ xa xưa, dòng sông này chảy qua những cánh rừng nhiều thảo mộc có hương thơm, nên khi vào Huế, dòng sông đem theo hương thơm của cây cỏ thiên nhiên. Với độ dài 80 km, sông Hương uốn lượn trong thành phố Huế như một sự sắp đặt để làm vui lòng du khách.
Dòng nước trong xanh tĩnh lặng, thành quách, lầu xá hai bên bờ in bóng xuống dòng sông như là tranh vẽ. Chiếc cầu Trường Tiền màu trắng bạc bắc qua sông Hương, duyên dáng như cô gái Huế trong chiếc áo dài tím rất Huế…


Sông Hương như một dải lụa hiền hoà miên man chảy rồi như một người dẫn đường xuôi dòng nước đưa du khách đến miệt vườn Vỹ Dạ với vườn hoa thảm cỏ xanh mướt, ngược lên Thiên Mụ để thả mình theo tiếng chuông chùa văng vẳng, rồi đột ngột rẽ vào sông Bạch Yến tới bến Huyền Không để phiêu diêu cùng với gió mây, với thế giới của hoa trơm trái ngọt và thiền giữa một không gian cổ kính…

Màu tím dịu dàng của Huế


Sông Hương - nét dịu dàng

Wednesday, May 6, 2015

Chùa Diệu Đế

Chùa Diệu Đế toạ lạc bên bờ sông Hộ Thành, người Huế gọi là sông Gia Hội, hoặc sông Đông Ba, nay là số 100B đường Bạch Đằng, gần cầu Gia Hội.

Chùa Diệu Đế có một vị trí quan trọng trong lịch sử Phật Giáo ở Huế. Chùa nguyên là phủ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi nên đã có cảnh quan rất đẹp, với vườn tược rộng rãi, cây cối xanh tươi. Năm 1844 nhà vua đã tôn tạo và sắc phong làm Quốc tự. Chùa trở thành một danh lam của đất kinh kỳ.



Tam quan chùa Diệu Đế

Diệu Ðế là ngôi quốc tự thứ ba, được vua Thiệu Trị coi là một trong hai mươi thắng cảnh của đất kinh đô Huế.
Chùa được vua Thiệu Trị truyền lệnh xây dựng với qui mô lớn vào các năm 1842, 1844 khi mới lên ngôi vài năm, trên vùng đất nhà vua đã ra đời.
Khuôn viên chùa nằm gọn giữa bốn con đường: phía trước là đường Bạch Ðằng chạy dọc theo một nhánh sông Hương, phía sau là đường Tô Hiến Thành gần chùa Diệu Hỷ, bên trái là con đường mang tên chùa Diệu Đế và bên phải là đường chùa Ông. Kiến trúc ban đầu của chùa rất qui mô. Tuy không đẹp bằng chùa Thiên Mụ, nhưng chùa Diệu Ðế có vẻ độc đáo riêng, có bốn lầu (hai lầu chuông, một lầu trống và một lầu bia).



Chính điện là đại giác, tả hữu chính điện là Thiền Đường, phía trước điện dựng gác Ðạo Nguyên hai tầng ba gian, sau gác Ðạo Nguyên có hai lầu chuông trống xây cân đối ở hai bên, chính giữa là lầu Hộ Pháp, sân trong có La Thành, sân trước có hai nhà lục giác, nhà bên tả đặt hồng chung, nhà bên hữu dựng bia lớn khắc bài văn do vua Thiệu Trị soạn. Hệ thống La Thành ngoài chùa Diệu Ðế xây dựng kiên cố, bề thế, trước có Phượng Môn ba cửa, hai bên có cổng nhỏ, ngoài bờ sông có xây bến thuyền khoảng mười bậc lên xuống.


Trước đây, chùa Diệu Ðế có nhiều tượng Phật do được chuyển từ chùa Giác Hoàng, sau sự kiện Kinh đô thất thủ (1885). Cuối năm này, chính phủ Nam Triều đặt sở Đúc Tiền ở Cát Tường Từ Thất, phủ đường Thừa Thiên ở Trí Tuệ Tịnh Xá và một tăng phòng làm nhà lao của tỉnh, một tăng phòng làm trụ sở cho Khâm Thiên Giám. Năm 1887 phần lớn các ngôi nhà trong chùa đều bị triệt hạ...về sau, ngoài cổng La Thành xây thêm bốn trụ biểu.

Hiện nay, chùa chỉ còn chính điện, hai bên chính điện đặt Bát Bộ Kim Cang, phía sau có một nhà khách, một bếp. Sân ngoài có nhà bia, nhà chuông, ngoài cùng là cổng Tam Quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ Pháp.



Hình : skyscrapercity

Sunday, May 3, 2015

Chùa Từ Đàm - Ngôi danh lam xứ Huế

Du Lịch Huế - Chùa tọa lạc ở số 01 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mặt chùa hướng Đông Nam. Bên trái chùa, có chùa Linh Quang và đền thờ cụ Phan Bội Châu.



Cổng tam quan

Thiền thất được ngài Minh Hoằng - Tử Dung, vị Thiền sư Trung Hoa dựng vào cuối thế kỷ XVII (khoảng năm 1690) vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái, tại Hoàng Long Sơn, đặt tên là Ấn Tôn với ý nghĩa lấy sự truyền tâm làm tông chỉ. Năm 1703, chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong cho chùa là Sắc tứ Ấn Tôn Tự. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị sắc chỉ đổi tên “Từ Đàm Tự” tức đám mây lành, tượng trưng cho đức Phật, cho ngôi chùa Việt Nam.

Năm 1699, ngài Liễu Quán đã đến cầu học tham thiền với Thiền sư Minh Hoằng - Tử Dung. Ngài đã trình kệ "Dục Phật" (tắm Phật) được Tổ ấn khả, truyền tâm ấn trong kỳ an cư kiết hạ năm Nhâm Thìn (1712).



Chùa Từ Đàm (xưa) trước khi xây mới

Từ một ngôi chùa cổ kính của Thiền phái Lâm Tế, chùa Từ Đàm được xây dựng làm chùa Hội quán Tỉnh hội Phật giáo. Từ những năm 1920, phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam được phát triển ở cả ba miền. Tại Huế, An Nam Phật học hội thành lập vào năm 1932 do các vị cao tăng thạc đức, cư sĩ lãnh đạo như các ngài Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, cụ Nguyễn Khoa Tân, cụ Nguyễn Đình Hòa … Năm 1936, chư sơn môn đồng thuận giao chùa cho Hội để làm nơi thờ phụng và làm trụ sở của Hội. Ngày 18-12-1938, Tỉnh hội Phật học Thừa Thiên đã xây chùa Hội quán trên nền cũ chùa Từ Đàm, giảng đường, nhà tăng và một số căn nhà làm việc của Tỉnh hội.

Ngôi chùa cũ có nhà tiền đường, mái ngói, ba gian, rộng 7,4m, dài 18m. Gian trong cùng thờ tượng đức Phật Thích Ca ngự trên tòa sen, tay bắt ấn Tam muội. Tượng bằng đồng, cao khoảng 1,30m, do hai ông Nguyễn Khoa Toàn và Nguyễn Hữu Tuân thực hiện năm 1940. Hai bên tượng treo hai tràng phan, một bên đề danh hiệu 7 đức Phật ở Ta Bà, một bên đề danh hiệu 7 đức Phật ở Tịnh Độ. Trên vòng cung trước bàn thờ treo tấm hoành sơn son thếp vàng giữa có ba chữ Hán “Ấn Tôn Tự”, phía trái có mấy chữ Thiên Vận Quý Mùi (1703) Sơ Xuân Cát Đán. Đối diện bức hoành trên là một bức hoành giữa đề bốn chữ “Huệ Nhật Trung Thiên”.



Cây Bồ đề

Cổng tam quan chùa được xây dựng năm 1965, phía trong là cội Bồ đề.

Cây Bồ đề này có nguồn từ cây Bồ đề chính tại Ấn Độ, nơi đức Phật Thích Ca thành đạo quả vô thượng giác, đã được nhà sư Mahinda (nguyên thái tử, con vua A Dục) đem giống sang trồng tại Srilanca (Tích Lan) khi qua truyền đạo tại đây vào thế kỷ III trước Tây Lịch. Trưởng lão Narada, người Tích Lan, lấy giống từ cây Bồ đề ở Tích Lan cùng bà Karpelès trong phái đoàn Phật giáo Campuchia tặng Hội Phật học Trung phần và trồng tại đây trong dịp sang thăm Huế năm 1939.

Mặt tiền chùa Từ Đàm xưa

Năm 1951, chùa là nơi tổ chức Hội nghị 51 đại biểu của 6 tập đoàn Tăng già và Cư sĩ ở 3 miền thành lập Hội Phật giáo Việt Nam và phê chuẩn việc Hòa thượng Tố Liên thay mặt Hội Phật giáo Việt Nam ký tên gia nhập Hội Phật giáo thế giới. Bài hát nổi tiếng "Từ Đàm quê hương tôi" của Nguyên Thông đã có nói đến sự kiện quan trọng này : "Ôi ! anh linh bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối nguồn Đạo Vàng ... Từ Đàm ơi ! "

Trong bài viết "Vai trò và vị trí chùa Từ Đàm đối với Phật giáo xứ Huế và miền Trung", Tỳ kheo Thích Hải Ấn cho biết từ năm 1940 ở Huế đã có Ban Đồng Ấu rồi có Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục của bác sĩ Lê Đình Thám lập ra, tụ hôi được nhiều phần tử trí thức tân học thời đó để dạy Phật pháp cho họ. Năm 1943, Gia đình Phật Hóa Phổ ra đời, đến năm 1951, đổi thành Gia đình Phật tử, đặt trụ sở tại chùa Từ Đàm và lan rộng tới cả miền Bắc và miền Nam.

Chùa Từ Đàm (xây dựng vào năm 2007)

Ngày 04-7-2006, chùa đã tổ chức tái thiết ngôi chánh điện với chiều dài 42m, chiều ngang 35,9m gồm hai phần, dưới là tầng hầm dùng làm hội trường, trên là ngôi chánh điện, kiến trúc theo mô hình trùng thiềm điệp ốc, ba gian hai chái, kiểu kiến trúc truyền thống của chùa Huế. Đại lễ An vị Phật đã được tổ chức trọng thể vào ngày 24-12-2007 (ngày rằm tháng 11 năm Đinh Hợi).

Chùa Từ Đàm ngày nay là một ngôi già lam tráng lệ. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ tượng đức Phật Thích Ca, hai bên có phù điêu hai vị Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền. Chùa có nhiều hoành phi và câu đối. Xin trích 3 cặp đối do Tỳ kheo trụ trì Thích Hải Ấn ghi lại và dịch nghĩa :

1. Trước hiên chùa, cặp đối do bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám soạn :

Phật chính biến tri, vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức.

Học chân thật nghĩa, như thị văn, như thị tư, như thị tu trì.

佛正遍知無量壽無量光無量功德

學真實義如是聞如是思如是修持

Nghĩa:

Phật là bậc Chánh Biến tri, Vô lượng thọ, Vô lượng quang, Vô lượng công đức.

Học theo nghĩa chân thật, nghe như vậy, tư như vậy, tu trì như vậy.

2. Trước hiên chùa, cặp đối do cụ Phan Bội Châu tặng :

Bát-nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;

Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.

般若本無言¾離£四句絕百非đ?化隨緣說無量無邊妙法

菩ì提?先?有願證š?O明具?眼俱圓福?果?¬大—大?Í慈?尊

Nghĩa: Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên;

Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tựu thành quả phúc, thành từ tôn đại hùng, đại lực.

3. Trong điện Phật, cặp đối của cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu soạn :

Bát-nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;

Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.

般若本無言¾離£四句絕百非đ?化隨緣說無量無邊妙法

菩ì提?先?有願證š?O明具?眼俱圓福?果?¬大—大?Í慈?尊

Nghĩa:

Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên;

Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tựu thành quả phúc, thành từ tôn đại hùng, đại lực.

Chùa hiện đặt Văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế. Những ngày đại lễ của Phật giáo hằng năm như kỷ niệm ngày Phật đản, lễ Vu Lan, lễ Phật Thành đạo ... và nhiều hoạt động Phật sự khác ở Huế đều được tổ chức trọng thể tại chùa.

Nhân ngày vía đức Thích Ca xuất gia 08-02 Mậu Tý (2008), Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã tổ chức Giới đàn Từ Đàm do Hòa thượng Thích Đức Phương làm Đàn đầu Hòa thượng truyền trao giới pháp cho giới tử xuất gia : Sa di (112 giới tử), Sa di ni (65 giới tử), Thức xoa (77 giới tử); giới tử tại gia có 620 giới tử Thập thiện và 70 giới tử thọ Bồ tát giới.

Báo Giác Ngộ online và nhiều website thường xuyên thông tin những hoat động ở chùa như : Ngày 29-5-2007, gần 200 Tăng Ni của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế và đoàn sinh gia đình Phật tử Huế đã tham gia hiến máu nhân đạo; từ ngày 01 đến ngày 07-3-2008, lần đầu tiên, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh và tạp chí Văn hóa Phật giáo phối hợp tổ chức Tuần Văn hóa Phật giáo với nhiều hoạt động văn hóa và sinh hoạt trao đổi tri thức diễn ra liên tục trong một tuần lễ tại chùa v.v...

Chùa thường xuyên đón tiếp chư vị Tôn đức lãnh đạo Phật giáo các nước, chư vị học giả, trí thức và nhiều đoàn du khách, Phật tử trong nước, nước ngoài đến thăm, lễ Phật.

Điện Phật chùa Từ Đàm xưa



Mặt tiền chùa

Điện Phật



Phù điêu Bồ tát Văn Thù



Tổ đường



Đại hồng chung



Trang trí nóc chùa



Lễ đài Phật đản



Tượng bán thân cố bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám



Ảnh cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu

Bài và ảnh: Võ Văn Tường

Bình An Đường - Điểm du lịch mới ở Huế

Du Lịch Huế - Đến đất Huế, ai cũng nghĩ tới Đại Nội, các lăng tẩm, hay chùa Thiên Mụ. Nhưng từ tháng 3 năm nay, có một điểm tham quan mới được đưa vào danh sách đó là Bình An Đường

Đây là di tích duy nhất còn sót lại sau chiến tranh phần nào liên quan tới cuộc sống của các cung tần mỹ nữ triều Nguyễn. Tới Bình An Đường, du khách được sống trong hoài cổ về một thời quá vãng qua chén trà cung đình thơm dịu, qua những bức hình nhuốm màu thời gian, qua tủ thuốc đông y chữa bệnh cho phi tần cung nữ xưa...

Bình An Đường được dựng lên từ năm Minh Mệnh thứ 4(1823) ở phía tả hoàng thành. Đến năm Tự Đức thứ 11(1858), di tích này được chuyển đến Bắc hoàng thành. Hiện Bình An Đường nằm ở số 1 Đặng Thái Thân, thuộc phường Thuận Thành.

Tham quan Bình An Đường, du khách được biết đến một số loại dược phẩm truyền thống như rượu Minh Mạng, rượu thuốc Minh Mạng, trà cung đình… và những hình ảnh, hiện vật, các bài thuốc Đông y… liên quan đến đời sống các cung nữ xưa cũng như Thái y viện triều Nguyễn.

Đến Bình An Đường, du khách vừa được tìm hiểu về lịch sử, vừa được thưởng thức trà cung đình, trà hoa viên cùng các thức uống khác trong không gian xưa mang lối kiến trúc phương đình, 1 gian 4 chái với khung gỗ, mái ngói tường gạch. Tại đây, vào tối thứ 3 hàng tuần, Bình An Đường còn tổ chức giao lưu âm nhạc “ Tình ca đi cùng năm tháng”. Hương thơm thanh cao của trà sen, trà lan hay trà Quý Phi, trà Mỹ nữ nhẹ tỏa trong âm hưởng những khúc tình ca sâu lắng khiến lòng người vô cùng thư thái.

Bình An Đường có khoảng sân vườn đẹp, thoáng mát, một chút hiện đại trong sự trầm mặc cổ kính của di tích xưa mang lại nhiều cảm giác thú vị cho khách tham quan. Bình An Đường nhất định là điểm đến thú vị của những du khách hoài cổ.

Saturday, May 2, 2015

Ngọ Môn

Du Lịch Huế - Ngọ Môn là cổng chính, “cổng phía nam” của Hoàng thành được xây dựng vào năm 1833, dưới triều vua Minh Mạng.

Ngọ Môn không phải chỉ là một cái cổng đơn thuần mà là cả một tổng thể kiến trúc phức tạp: trên nền cổng còn có lầu Ngũ Phụng với chức năng như một lễ đài, dùng để tổ chức một số cuộc lễ trọng thể hàng năm của triều đình như lễ duyệt binh, lễ đọc tên các sĩ tử thi đỗ tiến sĩ, lễ Ban Sóc (phát lịch)… Và đây cũng là nơi diễn ra cuộc lễ thoái vị của vua Bảo Đại – vị vua cuối cùng của Việt Nam vào ngày 30-8-1945.

Về mặt kiến trúc có thể chia tổng thể Ngọ Môn ra làm 2 hệ thống: hện thống nền đài ở dưới và hệ thoosngg lầu Ngũ Phụng ở trên, mặc dù cả hai đều được thiết kế ăn khớp nhau một cách chặt chẽ và hài hòa từ tổng thể đến chi tiết. Nền đài cao gần 5m, đáy dài 57,77, gần như là một sự tiếp nối của dãy thành, nhưng chiều ngang được bố trí hơi phình to hơn, nhất là hai cánh ngoài được nhô ra tạo nên mặt bằng hình chữ U, cánh dài 27,06m. Việc nhô ra đã tạo sự bề thế, vóc dáng đồ sộ chung cho cả công trình, đồng thời giúp cho người lính canh có thể kiểm soát mặt ngoài thành một cách dễ dàng.

Nền đài dày và cao, được cấu trúc theo kiểu “thượng thu hạ thách” với độ dốc gần như thẳng đứng, tạo nên một thế đứng hơi choãi chân rất bền vững mà vân gay được cảm giác sừng sững. Ơ phần giữa của nền đài trổ ba cửa đi song song: Ngọ Môn, dành cho Vua đi, Tả Giáp môn (cửa bên trái) và Hữu Giáp môn (cửa bên phải) dành cho các quan văn, võ theo hầu trong đoàn Ngự đạo. Ơ trong làng mỗi cánh chữ U còn trổ một lối đi như đường ham chạy xuyên suốt từ trong ra ngoài, rồi bẻ thẳng góc vào phía đường Dũng đạo. Hai lối này được gọi là Tả dịch môn và Hữu dịch môn, dành cho lính tráng và voi ngựa theo hầu trong đoàn Ngự đạo. Ơ phần trên của 5 cửa này đều xây cuốn thành vòm cao nhưng riêng ở hai đầu 3 cửa đi giữa thì có gia cố thêm hệ thống xà ngang và xà dọc bằng đồng thau. Các đường xà này được bọc thêm một lớp đồng lá dát mỏng để tạo thêm vẻ thẩm mỹ.

Vật liệu chính để xây dựng nền đài là gạch vồ và đá thanh. Gạch ở đây mỏng và có độ nung cao, được xây với những mạch vữa rất mỏng lại để trơn tạo ra những bờ tường phẳng. Các tảng đá xanh cũng được gia công ghè đẽo một cách vuông vắn, lắp ghép thành những điểm chạy viền quanh cổng và điểm chân nhằm làm tăng thêm vẻ đẹp và độ bền vững cho công trình. Phía trong nền đài có hai hệ thống bậc cấp xây bằng đá thanh ở hai bên, nằm lộ thiên nhưng rất kín đáo. Quanh trên nền đài là hệ thống tường hoa lan can được trang trí bằng nhiều kiểu gạch hoa đúc rỗng tráng men ngũ sắc.



Ngọ Môn xưa (năm 1937)

Lầu Ngũ Phụng trên nền đài có hai tầng, tầng dưới lớn, tầng trên nhỏ, với 13 gian kết cấu thành một bộ khung cũng theo hình chữ U như nền đài. Tuy cùng chung một bộ khung sườn làm bằng gỗ lim, nhưng ở phần trên lại tách ra thành 9 bộ mái riêng biệt, to nhỏ, cao thấp khác nhau, tạo nên sự nhấp nhô của các hình khối trong không gian như những hình chim phụng đang bay. Vì vậy, dân gian gọi là lầu Ngũ Phụng. Mái lầu lợp ngói tráng men vàng và xanh lá cây, gọi là ngói hoàng lưu ly và ngói thanh lưu ly. Ngói lợp theo kiểu âm dương.

Lầu Ngũ Phụng có tới 100 cột, trong đó 48 cột dài suốt cả hai tầng. Quanh các phía tầng dưới đều để trống chỉ trừ tòa nhà chính giữa là có hệ thống cửa gương ở mặt trước, dựng đố bản ở hai bên mặt sau nơi vua thường ngồi dự lễ. Tầng trên thì mặt trước nhà giữa dựng cửa lá sách, chung quanh nong ván nhưng trổ nhiều cửa sổ với những hình khác nhau như hình tròn, hình quạt, hình cái khánh…

Vì xung quanh mặt trên của nền đài có lan can và tầng dưới lầu Ngũ Phụng để trống, mái hiên lại ngắn, nên người ta đã xây thêm một nền lâu đài lồi cao 1,11m để vừa tôn cao lầu lên, vừa tránh được mưa gió tạt vào trong lòng lầu…

Trang trí Ngọ Môn rất được coi trọng. Những ngói ống đều tráng men và có in các hoa văn ở phía diềm mái. Đáng chú ý là những hình trang trí dơi ngậm tiền, bướm và rồng cách điệu, được ghép bằng những mảnh sứ màu. Nghệ nhân thời bấy giờ đã cố gắng mài giũa và chọn lọc màu sắc sao cho vừa khớp, lại hòa nhập vào toàn bộ khung cảnh, công việc được tiến hành một cách công phu, tỉ mỉ và có sự cân nhắc tính toán, do vậy những hình trang trí này nổi lên rất đẹp.

Một số trang trí gỗ trên các lan can cũng được các nghệ nhân đặc biệt chú ý. Hoa lá hình bát bửu là những đề tài được thể hiện ở đây. Chúng được làm tường đối đơn giản, không cầu kỳ, rối rắm nhưng lại thanh thoát, đẹp mắt, bảo đảm tính mỹ thuật cao.



Ngọ môn ngày nay

Ngọ Môn là một tổng thể kiến trúc có vóc dáng đồ sộ, nguy nga và thuộc vào những kiến trúc cao nhất của Hoàng thành (cả 3 tầng cao tới 14,80m). Dáng cao lớn và đẹp đẽ của nó tạo nên sự đột biến trong không gian, gây sự chú ý của mọi người khi đến thăm kinh thành Huế. Tuy dáng dấp có mô phỏng ít nhiều hình dáng của Thiên An Môn (Trung Quốc), vì trước khi thiết kế xây dựng vua Minh Mạng đã cho người sang tham quan Thiên An Môn; nhưng khi tiếp cận, chúng ta thấy các kiến trúc sư thời Minh Mạng đã có tinh thần sáng tạo và tay nghề cao trong việc thiết kế và trang tri. Do vậy, Ngọ Môn trở thành một công trình kiến trúc xinh xắn, đáng yêu, gần gũi với phong cảnh thiên nhiên và tình cảm, tâm hồn của người dân đất Việt nói chung và xứ Huế nói riêng.

Thursday, April 30, 2015

Đàn Nam Giao

Du Lịch Huế - Nhắc tới đàn Nam Giao tại Việt Nam, ai cũng nghĩ ngay đàn tế trời của vương triều Nhà Nguyễn ở Huế. Mà kể cũng đúng thôi, bởi lẽ đây là đàn tế trời duy nhất còn nguyên vẹn không chỉ ở Việt nam mà ở cả Đông Dương. Đàn Nam Giao được xây dựng vào năm 1806 duới thời vua Gia Long, cách kinh thành Huế khoảng 4km về phía Nam, là nơi nhà vua làm Lễ tế trời.

Đây là công trình lộ thiên được khởi tạo vào mùa xuân Bính Dần (25-3-1806) do thợ và lính thuộc Bộ Công và Bộ Binh thực hiện dưới sự chỉ huy của Chưởng quân Phạm Văn Nhơn cùng Đô thống Trần Văn Năng. Đầu năm Đinh Mão 1807, triều Nguyễn đã tổ chức lễ tế trời tại nơi này.

Về cấu trúc đàn Nam Giao triều Nguyễn gồm ba tầng, quay mặt về hướng Nam. Tầng thứ nhất hình vuông, màu đỏ, tượng trưng cho người. Tầng thứ hai cũng hình vuông, gọi là Phương đàn, màu vàng, tượng trưng cho đất. Tầng thứ ba hình tròn, gọi là Viên đàn, màu xanh, tượng trưng cho trời. Kiểu kiến trúc này phản ánh quan niệm về vũ trụ trong văn hóa phương Đông: Thuyết Tam tài (Thiên, Địa, Nhân); Thiên thanh, địa hoàng; Trời tròn, đất vuông.
Viên đàn (hình tròn) có 5 án thờ : án chính giữa thờ trời và đất ; các án xung quanh thờ chúa Nguyễn Hoàng, các vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Viên đàn cao 2,75m; chu vi hơn 127m, tô màu xanh, bốn mặt có thềm: phía nam có 15 bậc; đông, tây, bắc đều có 9 bậc.
Phương đàn (hình vuông) tên khác là Tùng đàn, có 8 án thờ, phía tả gồm 4 án thờ thần Đại minh (mặt trời), án thứ nhì thờ các vì sao trong bầu trời, án thứ ba thờ thần mây, thần mưa, thần gió và thần sấm, án thứ tư thờ thần Thái tuế (thần các năm) và thần Nguyệt tướng (thần các tháng); phía hữu, án thứ nhất thờ thần Dạ minh (mặt trăng); án thứ nhì thờ thần núi, thần biển, thần sông và thần chằm (đầm phá), thần các núi Triệu Tường, Khải Vận, Hưng Nghiệp và Thiên Thụ (bốn “linh sơn” là nơi táng các vị tiên vương, tiên đế vừa kể); án thứ ba thờ thần giữ lăng tẩm và phần mộ; án thứ tư thờ các thần kỳ trong nước. Đàn cao xấp xỉ 1m, vuông mỗi cạnh hiện đo được 83m, suy ra diện tích 6.889m², bốn mặt thềm đều 5 bậc.
Tầng thấp nhất cao 0,84m, vuông mỗi cạnh 165m, suy ra diện tích hơn 27.225m², bốn mặt thềm đều 4 bậc. Góc đông nam là lò chứa củi, góc tây bắc là huyệt chôn máu và lông các con vật hiến tế.
Khuôn viên đàn Nam Giao vốn được phân định bởi tường rào hình chữ nhật, bốn mặt có trổ cổng và chắn trước từng cổng là bức bình phong. Mỗi bình phong rộng 12,5m, cao 3,2m, dày 0,8m, được xây bằng đá, nay chỉ còn ba bức ở các phía đông, nam, tây. Tường cũng được xây bằng đá, bị triệt phá từ lâu. Bên ngoài khuôn viên, thuở xưa còn có nhiều hạng mục công trình phục vụ tế Giao được xây kiên cố bằng vôi gạch hoặc dựng tạm thời bằng tranh tre, bao gồm: Trai cung (nơi vua giữ mình trong sạch trước khi tế Giao), Thần trù (nhà bếp), Thần khố (nhà kho), Quan cư (nhà dành cho các quan tạm trú), Khoản tiếp (nhà đón khách nước ngoài). Các hạng mục trên hiện nay chỉ còn Trai cung là còn nguyên vẹn.
Trong lẫn ngoài khuôn viên Nam Giao, xưa kia xanh rậm một rừng thông, loài cây tượng trưng người quân tử. Từ khởi công xây dựng đàn Nam Giao, vua Gia Long đã ra lệnh “trồng cây gây rừng” quanh công trình được xem vĩ đại và uy nghiêm. Thoạt tiên là trồng cụm thông về hướng nam, phía trong tường rào, biểu thị cho bậc khôn ngoan tài trí đã kiên nhẫn nếm mật nằm gai và dũng cảm vào sinh ra tử mà sáng lập vương triều. Xung quanh là các cây thông, mỗi cây đều gắn một tấm biển nhỏ bằng đồng hay bằng đá khắc tên từng vị khai quốc công thần. Mùa xuân Giáp Ngọ 1834, đến Trai cung chuẩn bị tế Giao, Minh Mạng đích thân trồng 10 cây thông rồi tự tay buộc biển đồng có khắc bài minh do vua ngự chế. Vua Thiệu Trị nối ngôi cũng noi gương, trồng 11 cây thông như thế. Hàng ngũ hoàng thân quốc thích cũng như đại thần được vinh dự trồng mỗi người một cây thông quanh đàn Nam Giao, trên cây có buộc thẻ bài khắc họ tên mình. Đến đời Tự Đức, quyền được trồng thông tại khu vực Nam Giao nới rộng tới quan văn tứ phẩm lẫn quan võ tam phẩm. Rừng thông Nam Giao vì vậy cũng mở rộng, lấn dần sang phần đất sau Trai cung, vượt khỏi giới hạn tường rào cả quãng xa. Tính đến năm Ất Dậu 1885, tức từ đời vua Hàm Nghi trở về trước, mỗi quan lại vào triều diện kiến đức vua để được thăng chức, nâng bậc, ngay sau đó phải lên Nam Giao tự tay trồng một cây thông với sự chứng kiến của phái đoàn đặc biệt gồm các thành viên đại diện Bộ Lễ và Bộ Công.


Rừng thông quanh Đàn Nam Giao

Dưới triều Nguyễn, lễ tế trời được cử hành tại đàn Nam Giao vào trung tuần tháng hai hàng năm. Trước triều vua Thành Thái, lễ được tổ chức một năm hoặc hai năm một lần. Đến năm Thành Thái thứ 2 (1890), ba năm tế một lần. Thời vua Bảo Đại, Lễ tế trời rút lại chỉ còn một ngày.

Rước Vua ra từ điện Thái Hòa

Trước 1 ngày, bắt đầu từ canh 5, Cấm binh cờ xí, giáo mác đầy đủ, dàn bọc xung quanh đàn cả trong lẫn ngoài và các nhà Thần trù, Thần khố, Trai cung. Lính của các quân bộ Binh xếp hàng nghiêm ngặt hai bên con đường xa giá của nhà vua đi qua, kéo dài từ trong Đại Nội đến bến Phu Văn Lâu, qua bến đò bờ nam sông Hương ở xã Dương Xuân, cho tới tận đàn Nam Giao. Đồng thời kỳ lão 6 huyện thuộc phủ Thừa Thiên bày hương án hai bên đường từ bến đò bờ nam đó cho tới tận đàn sở, họ phải quỳ đón và quỳ tiễn xa giá của vua cho đến khi nhà vua yên vị tại Trai Cung.

Quang cảnh rước Vua đến Trai cung

Từ Festival Huế 2004, đã bắt đầu tái hiện lại cảnh lễ tế Đàn Nam Giao, nhưng không tái hiện lại lễ tế, chỉ tái hiện quang cảnh đoàn Ngự đạo hồi cung, không có vua. Festival Huế 2006 là festival đầu tiên tái hiện lại toàn cảnh lễ tế Đàn Nam giao, có cả “Vua” làm chủ tế.
Xung quanh việc tìm người làm “Vua” cũng là một vấn đề khá lý thú. Ngày xưa Vua được coi là Thiên tử - là con trời, thay trời trị dân nên đích thân nhà vua phải đứng làm chủ tế để chứng tỏ hiếu nghĩa của một người làm con. “Vua” làm lễ tế, tuyên đọc chúc văn gửi trời đất, thần linh, cầu mong quốc thái dân an. Người dân Huế trang nghiêm thắp nén nhang lên bàn thờ gia tiên khi “vua” tế trời. Thế nhưng tìm người đóng vai vua lúc ấy là điều không dễ. Khó bởi lẽ ai cũng ngại, vì tương truyền, ngày trước có hai lần vua triều Nguyễn “long thể bất an” nên triều đình đã cử hai vị đại thần thay vua tế Nam Giao. Hai vị đại thần này sau đó đều chết một cách khó hiểu (?!). Một chuyện khác, có đoàn làm phim từ Hà Nội vào Điện Thái Hòa, nơi vua thiết triều xưa, để quay chiếc ngai vàng. Ở nơi linh thiêng mà nhiều người trong đoàn mặc quần cộc, áo may ô... Sau khi cắm điện, bấm máy hoài mà đèn không sáng. Nhà văn hóa Huế Mai Khắc Ứng hiểu ngay chuyện, liền chạy đi mua một thẻ nhang, hoa, chuối vào thắp lên khấn, thế là đèn sáng ngay (!). Các diễn viên sợ đóng vai vua là vì thế.

Nghệ sĩ đóng vai Vua trong lễ tế

Trước tình hình đó, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã họp và quyết định giao nhiệm vụ này cho đạo diễn - NSƯT Ngọc Bình. Quyết định do Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký tên, đóng dấu hẳn hoi. Lần đầu tiên trong lịch sử sân khấu Việt Nam đã diễn ra chuyện rất hy hữu : Diễn viên đóng vai vua phải có quyết định của chính quyền!
Cầm quyết định, Ngọc Bình rất lo âu. Dù là đạo diễn, diễn viên giỏi, nhưng anh chỉ đóng vai vua trên sân khấu, còn bây giờ là vua ở lễ tế Giao Đàn, nếu có gì thất thố về tâm linh, không khéo mang vạ. Nhưng vì cấp trên đã tin tưởng giao phó, Ngọc Bình nghĩ mình phải cố gắng làm tròn trách nhiệm. Sau Tết hai vợ chồng Ngọc Bình lặng lẽ sắm lễ vật, vào Thế Miếu dâng cúng, cầu xin tiên đế cho Ngọc Bình được đóng vai vua và đêm trước khi diễn ra lễ hội, vợ chồng Ngọc Bình lại sắm lễ vật, lên đàn Nam Giao cúng cầu trời đất. Ngày xưa, trước khi tế Nam Giao, vua phải trai giới 3 tháng 10 ngày ở Trai Cung để “dọn” sạch mình. Vì thế, Ngọc Bình cũng bắt đầu “chay tịnh” cho đến ngày tế đàn. Với quyết tâm ấy, trong buổi chiều đoàn ngự đạo xuất cung, mọi người đã thấy một thần thái uy nghiêm của một vị vua thật sự trước khi hành lễ. Với diện mạo, cử chỉ thành kính lúc tấu sớ, “vua” Ngọc Bình đã làm cho tất cả những người có mặt tại đàn Nam Giao phải nín thở. Lễ tế lần ấy đã thành công nhờ sự nhập vai xuất sắc của Ngọc Bình. Sau lần làm “Vua” ấy cho đến nay, gia đình NSƯT Ngọc Bình vẫn luôn gặp nhiều điều may mắn, và mỗi kỳ Festival, khi chuẩn bị cho lễ tế Nam Giao, cái tên Ngọc Bình luôn được nhắc tới.
Festival Huế 2010 đã cận kề, trong festival lần này Lễ Tế Giao sẽ tiếp tục duy trì trên cơ sở nâng cao tính nghệ thuật và sự trang nghiêm của lễ hội. Hy vọng đó sẽ là một lễ hội hoành tráng, hấp dẫn và mang đậm nét nhân văn độc đáo của vùng đất Cố đô.

Một số hình ảnh lễ tế Nam giao xưa (năm 1935) :


Lễ Nam Giao - Đám rước qua Ngọ Môn (1935)


Lê Nam giao - Đám rước qua Vọng lâu cửa Ngăn (1935)


Đoàn Ngự đạo trước cửa Ngọ Môn


Lê Nam giao - Long tượng dẫn đầu đám rước (1935)


Lễ Nam Giao - Đám rước tới Trai cung (1935)


Các bệ thờ ở Đàn Nam Giao (1935)


Đoàn long tượng trước Trai cung

Đoàn Ngự đạo trở về

Nguyễn Văn Liêm

Tuesday, April 28, 2015

Đường của ông hoàng, bà chúa

Du Lịch Huế - Không phải ngẫu nhiên mà Tùng Thiện vương Miên Thẩm (1819-1870), con trai thứ mười của Hoàng đế Minh Mạng đã chọn một địa điểm nằm trên đường Phan Đình Phùng ngày nay để dựng phủ với cái tên gọi đầy ngọt ngào “Phương Thôn thảo đường”. Ông Hoàng này cùng với bào đệ Tuy Lý Vương là hai nhà thơ nổi tiếng của triều Nguyễn.



Đến nỗi, vua Tự Đức vốn kiêu ngạo cũng phải khâm phục và có thơ khen hai ông chú đã thành ca dao:“Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường”. Tạm hiểu, làm thơ được như của Tùng Thiện, Tuy Lý thì thơ của thời Đường cũng không còn đáng kể.



Ngay sau khi mới lên ngôi, vua Gia Long đã khởi sự đào sông An Cựu và cùng thời với con sông đào nổi tiếng bởi nguồn lợi và vẻ đẹp lạ lùng đó là sự hình thành nên con đường Phan Chu Trinh ở phía bên kia và bên này là Phan Đình Phùng. Cho dù mãi tận hàng chục năm sau nhưng người Pháp đã rất có lý khi gọi đó là đường bờ sông De la Suisse (Thụy Sĩ). Con đường quanh co, chạy dọc theo dòng sông trong xanh và uốn lượn, tô điểm bởi những hàng cây soi bóng và những chiếc cầu nhỏ bắc qua như những điểm xuyết đẹp, được hình thành bởi những ý tưởng tuyệt vời của chính những nhà thiết kế quy hoạch thời bấy giờ, làm nao lòng bao tâm hồn, ngập tràn bao xúc cảm, đặc biệt là những bậc thi nhân nổi tiếng như Tùng Thiện Vương.

Phủ Tùng Thiện Vương trên đường Phan Đình Phùng. Ảnh: Minh Phương

Cùng với “Phương Thôn thảo đường” là hàng loạt những dinh thự của các ông hoàng bà chúa, quan lại, hoàng thân quốc thích khiến cho ai đó đã phải thốt lên, đường Phan Đình Phùng là “con đường phủ đệ”. Từ phía trên này, nơi giao lộ giữa đường Phan Đình Phùng và Điện Biên Phủ, bắt đầu là Lạc Tịnh Viên, phủ do Đông Các Đại học sỹ Hồng Khẩn, con trai của Tùng Thiện vương xây năm 1889. Tiếp theo phủ Tùng Thiện vương là biệt thự của Từ Cung Đoan Huy hoàng thái hậu. Rồi đến phủ và tẩm thờ Ngọc Lâm công chúa, trưởng nữ của vua Đồng Khánh; biệt thự riêng của Hoàng Tùng đệ Vĩnh Cẩn, em họ thân tín của Cựu hoàng Bảo Đại.



Thêm một địa chỉ gợi nhớ đến thời kỳ mất nước vào cuối thế kỷ 19 là phủ Kiên Thái vương Hồng Cai, con trai thứ hai mươi sáu của vua Thiệu Trị, là thân phụ của ba vị hoàng đế lần lượt là Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh. Lưu truyền hàng trăm năm nay là câu vè “Một nhà sinh đặng ba con. Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài”. Và “hàng xóm” của phủ Kiên Thái vương là cung An Định nổi tiếng, do Hoàng đế Khải Định xây dựng từ thời còn là Hoàng tử Phụng hoá Bửu Đảo. Kế cận là nhà thờ thân mẫu vua Khải Định, phủ của An Hoá công Bửu Tửng, con vua Đồng Khánh và phủ của Bái Ân công chúa Nguyễn Phúc Lương Trinh, con vua Minh Mạng.



Đã hàng chục năm nay, hằng ngày tôi vẫn thường qua về trên con đường bờ sông Phan Đình Phùng. Mùa hè mát rượi và ngày đông coi chừng ngập nước lúc mưa lớn. Những ấn tượng đặc biệt về cổng phủ rêu phong với cửa đóng then cài và thấp thoáng bên trong là dinh thự nhà vườn Huế đặc trưng. Quy mô của những phủ đệ thậm chí còn nhỏ hơn cả những ngôi nhà rường của những người bình dân nhưng hấp dẫn, gợi bao tò mò bởi cuộc sống sinh hoạt và những con người cùng danh phận của một thời đã qua. Có lẽ cũng như tôi, có dịp ngang qua gợi lên từ trong sâu thẳm của bao người sẽ là những tò mò và khát khao khám phá về một thế giới xưa cũ nhưng lại là niềm tự hào một thời của Huế. Và tự dưng, tôi mơ về một tour du lịch thăm lại vương phủ xưa ở Huế mà một trong những điểm nhấn là đây, những dinh thự nằm bên dòng sông An Cựu “nắng đục mưa trong” để hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn về sinh hoạt và phong cách sống của những “mệ” Huế, từng làm tốn bao giấy mực của người đời xưa nay.

Theo ĐAN DUY

Monday, April 27, 2015

Làng hương Thủy Xuân khởi sắc

Du Lịch Huế - Đường Huyền Trân Công Chúa dẫn du khách vào khu di tích lăng vua Tự Đức, đồi Vọng Cảnh quanh năm rực rỡ bởi những bó chông hương đầy màu sắc được trưng bày công phu hai bên đường.

Tôi được tham gia cùng một đoàn du khách gồm 16 người đến từ Ý, Anh, Úc đi thăm lăng vua Tự Đức, đồi Vọng Cảnh. Khi đi ngang đường Huyền Trân Công Chúa, đoàn dừng lại thăm làng hương theo yêu cầu của du khách. Vừa xuống xe, du khách đã ồ lên trong sự ngạc nhiên khi trông thấy con đường phơi đầy hương, đủ các màu sắc. Mọi người dạo bước khắp đoạn đường để tham quan và nghe người hướng dẫn du lịch giới thiệu về hương, cách làm hương…

Hương được người dân trưng bày thành hoa

Du khách thích thú học làm hương

Mỗi ngày có khoảng 10-15 đoàn ghé thăm làng hương trên trục đường này. Anh Nguyễn Phước Kỳ, người hướng dẫn đoàn du khách, cho biết: “Tôi dẫn khách châu Âu đến thăm lăng Tự Đức và đồi Vọng Cảnh bao nhiêu lần thì ghé thăm làng hương này bấy nhiêu lần”.

Nhiều người dân ở Thủy Xuân thay đổi được cuộc sống nhờ làm du lịch này. Trước đây, người dân vùng này sống bằng nghề làm hương bán cho các đại lý quanh thành phố. Khoảng 7-8 năm lại đây, du lịch phát triển, du khách đi thăm lăng vua Tự Đức, đồi Vọng Cảnh ngày một nhiều. Làng hương Thủy Xuân lại nằm cửa ngõ của những điểm du lịch này, mỗi lần ngang qua du khách đều dừng chân ghé xem người dân làm hương và rất thích thú, dần dần nó thành điểm du lịch cho nhiều du khách châu Âu.

Nắm bắt cơ hội đó, người dân Thủy Xuân phát triển làng nghề truyền thống thành sản phẩm du lịch. Trước đây, hương chỉ có hai màu nâu và đỏ. Nhưng để bắt mắt du khách, những người thợ cần mẫn đã tìm cách phối thành nhiều màu để nhuộm chông. Từng bó chông hương với đủ loại màu sắc, xòe thành từng chùm, dựa vào nhau rồi tỏa ra như những đóa hoa và cứ thế níu chân không biết bao đoàn du khách.

Người dân ở đây cũng dần chuyên nghiệp hơn trong cách làm du lịch. Không chỉ có hương mà ở đây còn có hàng trăm mặt hàng lưu niệm khác cho du khách lựa chọn. Dọc đoạn đường này, có khoảng 15 quầy hàng du lịch, nhiều chủ cửa hàng biết chào mời khách bằng tiếng Anh. Chị Nguyễn Thị Ty, chủ một quầy hàng tâm sự: “Mỗi ngày có 2-3 đoàn ghé vào hàng, mua hàng thì có đoàn mua có đoàn không nhưng tham gia làm hương, làm nón thì đoàn nào cũng tham gia, có ngày lời 1-2 triệu đồng có ngày thì không lời đồng nào nhưng tụi chị vẫn luôn vui vẻ với khách”. Biết du khách châu Âu thích uống trà và mứt gừng ở Huế nên quán nào cũng bày sẵn trên bàn để mời khách. Thiết nghĩ, cần có sự hợp tác giữa các công ty du lịch và người dân ở đây, tạo cho họ cảm giác yên tâm trong làm du lịch, không còn phải thu nhập nhờ sự may rủi từ việc bán hàng cho du khách.

Theo Hải Thuận

Cầu ngói Thanh Toàn lặng lẽ trong chiều Huế

Du Lịch Huế - Đây là một trong ba cây cầu mái ngói ở Việt Nam được làm bằng gỗ theo lối “thượng gia, hạ kiều”.

Cầu ngói Thanh Toàn (thuộc làng Thanh Thủy, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy) cùng với cầu ngói Kim Sơn (Ninh Bình) và cầu ngói Hải Hậu (Nam Định) đã từng được Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế chọn để phát hành bộ tem đặc biệt “Cầu mái ngói” nhân dịp Festival Huế 2012.

Những du khách lần đầu đến Huế thường thăm quan những điểm du lịch nổi tiếng trong thành phố Huế như Đại Nội, Lăng Khải Định, chùa Thiên Mụ… mà bỏ qua di tích quốc gia đáng chiêm ngưỡng ở vùng ngoại ô này. Cầu ngói Thanh Toàn cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7-8 km về phía Đông Nam. Đường đến đây khá nhỏ nên khách thăm quan chỉ có thể đi vào bằng xe máy hoặc thuê xe đạp.



Cầu ngói Thanh Toàn là di tích cấp quốc gia được xây dựng theo lối “Thượng gia, hạ kiều” (trên nhà, dưới cầu). Cầu được làm bằng gỗ, bên trên có mái ngói che. Hai bên thành cầu có bục để ngồi và có lan can thành cầu.

Mái ngói được ốp sành, sứ. Đây là cách trang trí phổ biến trên các lăng tẩm, đình chùa tại Huế.



Dù đã được trùng tu khá nhiều lần nhưng cầu vẫn còn giữ nguyên được kiến trúc và giá trị văn hóa vốn có của nó.



Câu cầu ngói nằm trong một quần thể di tích gồm đền thờ họ, chùa, đình… Ngay bên cạnh là Nhà nông cụ, trưng bày các dụng cụ nông nghiệp và đồ dùng sinh hoạt của người dân ở đây.



Ngay trước mặt cầu ngói là khu chợ Thanh Toàn. Khu chợ vẫn giữ được nhiều nét cổ kính, trầm mặc đặc trưng của Huế./.

Theo CTV Hương Thảo

Làng đúc đồng Dương Xuân

Du Lịch Huế - * Địa điểm: Làng Dương Xuân ở ngay hữu ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố về phía tây chừng 4 cây số, hầu hết dân làng làm nghề đúc đồng, nên từ lâu quen gọi là phường Đúc (hay phường Thợ Đúc).

* Hình thành: Theo gia phả và cả truyền miệng thì dân Dương Xuân có quê gốc ở Bắc Ninh và Thanh Hóa, tổ tiên họ vào đây từ thời các chúa Nguyễn và tiếp tục trong thời Nguyễn. Cũng có tài liệu nói thợ đúc đồng Đại Việt từ thời Trần đã theo công chúa Huyền Trân vào đây. Đồ đồng hiện còn ở Huế có nhiều hiện vật nổi tiếng được đúc vào nửa sau thế kỷ XVII, có ghi niên đại vua Lê và mang nhiều họa tiết trang trí ngoài Bắc đương thời, chắc chắn là sản phẩm của những thợ thủ công từ Đàng Ngoài mới vào. Nhiều đợt di cư đi tìm cuộc sống ở phía Nam, có thể có cả những thợ đúc đồng vào đây. Đặc biệt khi Huế thành kinh đô, nhà Nguyễn trưng tập thợ khéo cả nước về đây làm những đồ cao cấp, chắc hẳn có cả thợ đúc đồng ngoài Bắc, khi hết hạn phục vụ họ ở lại Huế bổ sung cho phường Đúc. Bằng những nguồn trên, làng đồng Dương Xuân – phường Đúc ngày nay càng phát triển.

* Đặc điểm: Chỉ kể những vật phẩm nghệ thuật lớn và có niên đại chắc chắn: Những chiếc vạc ở Đại Nội (1659- 1684), Khánh chùa Thiên Mụ (1677), chuông chùa Thiên Mụ (1710), Cửu vị thần công (1816), Cửu đỉnh (1835-1837), chuông chùa Diệu Đế (1846)…đủ thấy sự phát triển liên tục, đỉnh cao cả về kỷ thuật và nghệ thuật của phường Đúc. Các chùa ở Huế có rất nhiều tượng Phật bằng đồng với niên đại thuộc đầu thế kỷ XX. Và gần hơn, tượng chân dung nhà chí sĩ Phan Bội Châu cao 4m, đúc năm 1974. Tất cả nói lên tài hoa của thợ phường Đúc đúc những tác phẩm nghệ thuật khó và lớn cần có sự chỉ đạo của những người thợ cả - nghệ sĩ bậc thầy, sự phối hợp chặt chẽ của hàng chục người làm ra và của hàng chục lò cùng nấu đồng.

Đồng Dương Xuân đã cống hiến cho vùng Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế những công trình nghệ thuật sống mãi với thời gian, ngày nay đang được tổ chức lại, vẫn làm ra những sản phẩm dân dụng, tham gia vào guồng máy công nghiệp và đúc hàng nghệ thuật nữa.

Thanh bình Bến đò Vĩnh Tu

Du Lịch Huế - Bến đò Vĩnh Tu thuộc xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế khoảng 35km về hướng Đông Bắc.

Bến đò nối hai bờ phá Tam Giang, là điểm vận chuyển giao lưu buôn bán hàng hoá giữa các xã bên kia phá Tam Giang như Quảng Công, Quảng Ngạn... với các xã Quảng Lộc, Quảng Phước... và thị trấn Sịa.Hiện tại,

Dưới đây là những hình ảnh mà chúng tôi ghi lại vào hoàng hôn:








Sunday, April 26, 2015

Bên cầu Phú Cam xứ Huế

Du Lịch Huế - Cầu Phú Cam bắc ngang con sông đào An Cựu, cách cồn Dã Viên của sông Hương về phía Nam chừng hơn một cây số. Vào thế kỷ XVII, dưới thời các chúa Nguyễn, khu vực này là phủ, là chỗ ở dành cho các vương tử, rồi được gọi là Phú Cam. Đây cũng là nơi có làng nghề làm nón nổi tiếng lâu đời của Huế.

Đi theo đường Nguyễn Trường Tộ đến cầu Phú Cam rồi qua cầu một đoạn, những du khách yêu thích kiến trúc sẽ tìm thấy hai công trình đẹp đáng tham quan là Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam và chùa Quốc Ân.

Ngay chân cầu Phú Cam có một đoạn dốc ngắn dẫn lên Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam. Nhà thờ tọa lạc trên một ngọn đồi thấp. Đi từ xa đã thấy hai ngọn tháp chuông cao vút in lên nền trời trong xanh ẩn hiện sau những tán cây. Đây là một trong những giáo đường lớn và lâu đời nhất của cố đô.

Đường vào Nhà thờ Phủ Cam



Được xây dựng lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XVII, sau ba lần bị phá hủy toàn bộ, năm 1963 nhà thờ được xây dựng lại và đến năm 1995 mới cơ bản hoàn thành. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã thiết kế thánh đường theo lối kiến trúc hiện đại vẫn trang trí theo phong cách nghệ thuật cổ điển của phương Tây. Dáng vẻ thanh thoát nhẹ nhàng cùng với vị trí ở trên cao của nhà thờ khiến du khách khi ngắm nhìn từ xa cũng đã cảm thấy lòng thư thái hơn.



Hai tháp chuông nhà thờ

Mặt bằng xây dựng nhà thờ mang dạng thánh giá. Các trụ đỡ được đúc sát vào tường, chạy uốn cong dần về phía trước, mềm mại. Lòng nhà thờ rộng, có thể chứa được 2.500 người đến dự lễ. Có hai dãy cửa gương màu nằm ở phần trên, bên trong nhà thờ cung cấp ánh sáng cho nội thất. Cung thánh là một hình tròn có các cấp đi lên, trên cung là một hình tròn nhưng nhỏ hơn với bàn thờ bằng đá cẩm thạch nguyên khối.

Ra khỏi con dốc nhà thờ rồi rẽ trái theo đường Nguyễn Trường Tộ, đi thêm chừng 2km du khách sẽ gặp một ngôi chùa cổ nằm tại chân đồi. Đó là chùa Quốc Ân, một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Huế và cũng là công trình kiến trúc mang dấu ấn văn hóa Phật giáo của nhiều thời kỳ lịch sử qua nhiều lần trùng tu.

Mái chùa nâu sẫm nằm trầm mặc giữa khuôn viên rộng thênh thang mướt xanh cây cối. Xung quanh chùa cũng là dải đồi xanh yên ả. Chùa được tổ sư Nguyên Thiều (người ở Triều Châu, Quảng Đông) xây vào khoảng năm 1683-1684. Thời ấy, chùa Quốc Ân là một ngôi tổ đình danh tiếng bậc nhất và có vai trò lịch sử rất quan trọng đối với quá trình phát triển Phật giáo xứ Đàng Trong.

Kiến trúc chùa Quốc Ân theo kiểu chữ khẩu truyền thống của xứ Thuận Hóa xưa. Chùa hiện lưu giữ được nhiều tượng khí và pháp khí xưa quý từ thời khai sơn cho đến nay, chẳng hạn bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Thích Ca được chú tạo vào khoảng năm 1851…

Gian bên trái thờ Bồ tát Quan Thế Âm, hai bên là hộ pháp, phía trước thờ Bồ Đề Đạt Ma, gian bên phải thờ Quan Thánh (Quan Vân Trường). Các tượng khí này đều do tổ sư Nguyên Thiều mang từ Trung Quốc sang. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ chiếc khánh đồng có hoa văn rất đẹp, được đúc từ thời Minh Mạng và nhiều pháp bảo, pháp khí khác như đại hồng chung, bia ký...

Qua nhiều lần được các đời hoàng thân quốc thích triều Nguyễn trùng tu, xây đắp, chùa Quốc Ân được bổ sung những phong cách kiến trúc, trang trí của nhiều thời kỳ lịch sử. Chùa được coi là một trong những ngôi tổ đình ở Huế còn lưu lại nhiều dấu ấn văn hóa xưa quý nhất của Phật giáo xứ Thuận Hóa.

Cổng chùa Quốc Ân



Một góc khuôn viên chùa Quốc Ân

Giải nhiệt ngày hè, về miền sông nước

Du Lịch Huế - Giữa thời tiết nóng như đổ lửa, cảm giác được ngâm mình trong làn nước mát lạnh và thưỏng thức các món ăn tươi sống thật là sảng khoái…

Huế đang vào mùa nắng nóng, tìm về với vùng sông nước để được khám phá, trải nghiệm và thư giãn cùng người thân, bạn bè là lựa chọn của nhiều người. Cách thức tự tổ chức du lịch như thế này vừa tiết kiệm chi phí vừa được thỏa sức vui chơi.

Phong phú về dạng địa hình, Thừa Thiên Huế có nhiều vùng biển, đầm phá, hồ, suối… để các bạn tha hồ khám phá. Các chuyến đi xa hay gần được tổ chức tuỳ theo chi phí, phương tiện…
Biển gọi ngày hè

Biển xanh vẫy gọi. Ảnh: Linh Tuệ
Bãi biển Thuận An, Vinh Thanh, Lộc Bình, Cảnh Dương, Lăng Cô… là những địa chỉ quen thuộc, song, vẫn là lựa chọn của nhiều người khi muốn đổi gió. Hải sản tươi ngon, bãi biển sạch đẹp, sóng êm, an ninh trật tự đảm bảo… nên du lịch biển vẫn hấp dẫn các đối tượng người trẻ lẫn người già.
Chị Nguyễn Thuỳ Linh, nhân viên phân phối hàng hóa ở TP Huế cho biết: “Gia đình có khách từ Hà Nội vào chơi nên ngoài các điểm di tích, mình thuê một chiếc taxi để cả nhà cùng về biển tắm, nghỉ ngơi. Sau những ngày lao động mỏi mệt và nhất là khi thời tiết oi bức như thế này, về biển là phương án hợp lý, được nhiều người trong gia đình ủng hộ”.
Theo những người có kinh nghiệm, hạn chế tắm biển vào ban đêm vì rất dễ xảy ra tai nạn đuối nước, hơn nữa, việc hỗ trợ xử lý từ những người xung quanh gặp khó khăn do hạn chế tầm nhìn.
Thác, suối, khe: “vẻ đẹp bí ẩn”
“Vẻ đẹp bí ẩn” là tiêu chí hấp dẫn nhiều bạn trẻ khi muốn trốn nắng trong những ngày này. Họ thường hẹn bạn bè thành từng nhóm 7-10 người, chuẩn bị thêm ít trái cây và thức ăn nhanh rồi cùng xuất phát.
Các điểm đến đang được yêu thích hiện nay là thác A Noh (A Lưới), thác Bàu Ghè, suối Voi (Phú Lộc), khe Đầy (Hương Trà)… Phong cảnh hoang sơ, kết hợp thăm thú một số địa danh trong vùng hoặc khám phá thiên nhiên khiến nhiều bạn trẻ nghe tên là muốn lên đường. Một số lý do khác đi kèm khiến các địa danh nói trên thêm có thêm sức hút đối với những người thích khám phá như: thưởng thức đặc sản ếch, gà nướng suối Voi; bắt cá leo ở A Noh; bẫy chim và nghe chim hót, đặc biệt là ở khe Đầy, nơi chào mào có bộ cánh re rất đẹp, hót cực hay mà những người chơi chim sành điệu mới biết.
Hồ Ngọc Uyên Thư, sinh viên Trường CĐ Sư phạm Huế đến với A Noh chia sẻ: “Tuy đường lên A Lưới còn khó khăn, đường vào A Noh cũng vất vả không kém nhưng đến nơi rồi mới thấy những gì mình trải qua thật xứng đáng. Nước ở đây trong vắt, mát lạnh, không sâu lắm nên thỏa sức ngâm mình. Tới đây nhóm tụi mình còn tận mắt thấy cá leo bơi ngược dòng, thưởng thức các món ăn đặc sản, đặc biệt là cảm nhận nét văn hóa vùng cao A Lưới”.
Với kiểu du lịch đến vùng hoang sơ, tốt nhất, các bạn nên chuẩn bị ít thực phẩm hoặc liên hệ trước với những hộ dân ở gần nơi du lịch để đặt trước các món ăn. Đá ở những suối, khe hồ này thường trơn trượt nên chọn giày có độ bám tốt; cẩn thận trong quá tình di chuyển; khám phá vẻ đẹp thiên nhiên đi thành từng nhóm tránh trường hợp lạc đường hoặc có người bên cạnh giúp đỡ phòng trường hợp bất trắc. Với những gia đình có trẻ nhỏ đi cùng, cần có người lớn kèm chặt các em trong quá trình bơi tắm, tốt nhất là chuẩn bị phao bơi cho trẻ.
Đầm phá: tươi rói và mới mẻ

Nhiều trải nghiệm ở tuyến du lịch đầm phá. Ảnh: Trang Lê
Hệ thống đầm phá ở thừa Thiên Huế trải dài và địa danh này luôn hấp dẫn du khách bởi hiện nay có rất ít tour đi chơi vùng đầm phá. Về vùng sông nước này, ít nhất bạn phải có người quen để liên hệ thuyền hoặc đặt trước chồ làm nơi nghỉ ngơi, thưởng thức ẩm thực. Thôn Ngư Mỹ Thạnh ở xã Quảng Lợi (Quảng Điền) đã tổ chức tour cho nhiều du khách trong và ngoài tỉnh. Các bạn có thể nghỉ lại ở các nhà dân trong thôn, đạp xe đi thăm các làng nghề thủ công, cùng ra phá làm ngư dân với bà con hay theo thuyền đi chợ sớm trên sông.
Nếu có ít thời gian, bạn có thể tìm về đầm Chuồn, xã Phú An (Phú Vang), điểm đến mới với giá cả phải chăng và thú vị hơn nhiều so với cồn Tè. Từ khu tái định cư, đi thuyền ra đầm chừng 7 phút, đến các ô nuôi thuỷ sản, cùng câu cá hoặc thả lưới thu hoạch tôm, cua để tự chế biến bữa ăn cho mình. Đang vào mùa cá kình, nếu chưa có cơ hội thưởng thức bánh xèo cá kình, bạn có thể dặn trước chủ nhà chồ chuẩn bị.

Cá kình, đặc sản của vùng đầm phá. Ảnh: Trang Lê
Anh Nguyễn Dũng, chủ một nhà chồ có khả năng phục vụ cho 30-50 người trên đầm Chuồn cho biết: “Không chỉ các gia đình, nhiều cơ quan, nhóm bạn công ty đều đến đây hàng tuần để được vui chơi, thậm chí là thuê thuyền ra cửa biển Thuận An”.
Điều thú vị là tất cả các loài thuỷ sản nơi đây còn “bơi lội tung tăng” và gắn liền với tên tuổi vùng đầm phá như tôm sú, cá dìa, cá ong, cá nâu… Khi đi đừng quên mang theo máy ảnh bởi phong cảnh ở đầm Chuồn rất đẹp, bạn sẽ có một bộ sưu tập đáng nhớ về con người và sông nước nơi đây.
Theo Tuệ Ninh

Chi Lăng – con đường di sản của Huế

Du Lịch Huế - Con đường Chi Lăng, được giới nghiên cứu Huế đánh giá là khu đẹp nhất của phố cổ Gia Hội vẫn e lệ, sâu lắng và đầy hấp dẫn. Nhưng đáng tiếc chẳng có tour du lịch nào đến nơi đây.



Chùa cổ Trường Xuân.

Con đường Chi Lăng nằm phía đông kinh thành Huế, nay thuộc địa phận ba phường Phú Cát, Phú Hiệp, Phú Hậu, TP Huế. Khởi đầu từ đường Trần Hưng Đạo (tiếp giáp đầu cầu Gia Hội), con đường chạy qua ngã ba các đường Tô Hiến Thành, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương rồi qua chợ Dinh, qua đường Nguyễn Gia Thiều với chiều dài 1850m. Đoạn nối dài của nó chạy sâu vào đất làng An Quán xưa ra tận bờ sông Hương phía nhà thờ Bãi Dâu có chiều dài gần 860m.
“Chất Huế” rất riêng
Nếu kinh thành Huế và lăng tẩm các vua triều Nguyễn là những gì còn sót lại của một vương triều đã lùi vào xa vào dĩ vãng thì con đường Chi Lăng chính là “dấu ấn” vẫn chưa vội phai mờ của đời sống của cư dân mảnh đất thần kinh xưa. Đến nay, trên con đường Chi Lăng, nhiều di tích lịch sử rất có giá trị đối với dòng chảy văn hóa Huế vẫn được lưu giữ và bảo tồn.

Hội quán người Hoa.

Đầu tiên là “khu phố Tàu”. Đầu thế kỷ 19, khi Huế trở thành kinh đô của nước Việt thống nhất dưới thời Nguyễn, người Hoa kiều tập trung đến khu phố Đông Kinh thành làm ăn sinh sống rất đông. Con đường Chi Lăng đã trở thành địa điểm có cộng đồng người Hoa nhiều nhất ở Huế từ trước đến nay. Các công trình kiến trúc người Hoa trên trục đường nơi đây đẹp không thua gì ở phố cổ Hội An. Thậm chí cảnh quan và nội thất vẫn nguyên vẹn y như lần đầu xây mới. Từ đền Chiêu Ứng, Chùa Bà, Chùa Quảng Đông đến Hội quán Triều Châu, Hội quán Phúc Kiến (và mấy năm gần đây là Hội quán Quảng Triệu) đều được các cộng đồng người Hoa xây dựng rất công phu, uy nghi và tráng lệ. Nhà thuốc Bắc Hòa Thạnh Đường và các xóm người Hoa xung quanh các di tích tâm linh nói trên trên đã tạo nên một khu phố Tàu rất “riêng” cho con đường Chi Lăng xưa và nay.

Dưới khu phố Tàu là khu chợ Dinh. So với “Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại” thì khu chợ Dinh ngày nay nhỏ bé hơn và khiêm nhường hơn. Nhưng địa danh này lại gắn liền với một nhân vật lịch sử quan trọng thời Nguyễn là cụ Trần Tiễn Thành, một trong ba vị quan đầu triều nhà Nguyễn thời thực dân Pháp xâm lược nước ta. Theo một số người già ở đường Chi Lăng, cụ Trần Tiễn Thành rất được người dân kính trọng nên ở khu phố Chi Lăng xưa được gọi là phố chợ Dinh.

Tuy nhiên, có một cách hiểu khác là do đường Chi Lăng có rất nhiều phủ đệ của các ông hoàng bà chúa và các quan đại thần nên dân gian mới gọi là phố chợ Dinh. Ở đường Chi Lăng hiện vẫn còn một số phủ đệ như Phủ Thọ Xuân, Phủ Thoại Thái Vương, Phủ Hòa Thạnh Vương, Phủ Quảng Biên Quận Công.

Trụ sở Tiên Thiên Thánh giáo.

Đặc biệt hơn, con đường Chi Lăng còn là tuyến đường có nhiều công trình kiến trúc tâm linh của người Việt như Thanh Bình Từ Đường, trụ sở Thiên Tiên Thánh giáo của Việt Nam, nhà thờ Trần Hưng Đạo và chùa cổ Trường Xuân.
Thanh Bình Từ Đường, nhà thờ tổ ngành Sân khấu lớn nhất của cả nước được Nhà nước công nhận là Di tích văn hóa cấp quốc gia loại 1 vào lần đầu tiên. Các gánh hát trong cả nước thường về làm lễ tế tổ ở đây hằng năm rất đông. Thời xưa, bao quanh từ đường là Thự Thanh Bình, cơ quan quản lý công việc múa hát cung đình. Đây là trụ sở của các đội Võ can - tổ chức văn công chuyên nghiệp của triều đình và những lớp Đồng ấu, trường đào tạo nghệ nhân múa hát.
Trụ sở Thiên Tiên Thánh giáo Việt Nam cũng là một di tích tâm linh rất đặc biệt. Đặc biệt là vì nó là trụ sở chính của cả nước và là điểm “làm lễ” đầu tiên để tổ chức lễ chính thức tại Điện Hòn Chén.
Nhà thờ Trần Hưng Đạo được xây dựng khá đẹp bên cạnh từ đường dòng họ Phạm, trên một đoạn là từ đường dòng họ Nguyễn Tư. Còn ngôi chùa cổ Trường Xuân được dựng lập từ thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát và dưới triều Nguyễn gọi là Xuân An Tự. Nhân dân Huế mỗi dịp Lễ Tết đều đến chùa bái vọng và cầu xin sức khỏe, vận mạng rất đông đúc.



Nhà cổ ở Chi Lăng Huế

Bên cạnh đó, đường Chi Lăng hiện nay có bảo tồn khá nhiều nhà cổ. Một số ngôi nhà đã được Nhà nước cấp kinh phí trung tu nên đã giữ được dáng vẻ vững chãi của ngôi nhà cổ ba gian hai chái.
Nếu như các di tích là “lời mời di sản” thì những đặc sản ẩm thực của con đường Chi Lăng lại hấp dẫn du khách đến nao lòng. Du khách đến Huế thường ghé vào cửa hàng Thiên Hương để mua mè xửng về làm quà hoặc nhâm nhi thưởng thức lúc đêm về. Các quán bún bò Huế (ngon nhất là quán O Liễu, gần cầu Gia Hội), Quán Bến Đò Cồn (bánh khoái và nem lụi), Quán Tranh (bèo nậm lọc), Chè Sữa (gần chợ Cồn Phú Cát), Chợ Dinh (cháo con trai và bún mắn nêm) đã trở thành những thương hiệu ẩm thực tin cậy cho du khách đến Huế. Đối với những du khách ưa ẩm thực hàng “rong”, những quán bún hến, cháo lòng, bún thịt nướng, bánh canh nam phổ… cũng sẵn sàng phục vụ với những giá rất ư là bình dân nhưng khá ngon miệng.
Bên cạnh những món ẩm thực nổi tiếng nhất nhì Huế, đường Chi Lăng còn nổi tiếng với thú chơi đổ cổ, hai nhà hàng tổ chức đám cưới, tiệm vàng Hoàng Đức, rạp Hoàn Mỹ cũ và xóm Chùa làm hàng mã. Hai cha con ông Nguyễn Văn Cường và bác sĩ Nguyễn An Huy - những nhà chơi tiền cổ nổi tiếng Việt Nam hiện đang sống tại số 166 Chi Lăng. Hai nhà hàng tổ chức đám cưới được xây theo lối kiến trúc cổ (Gia Hội và Cung Hỷ) cũng khiến đường Chi Lăng lộng lẫy hơn. Tiệm vàng Hoàng Đức số 75 Chi Lăng được giới buôn bán trang sức bằng vàng Huế ưu chuộng vì có ngay một xưởng gia công vàng ngay sau tiệm với những thợ thủ công lành nghề. Rạp Hoàn Mỹ vẫn còn bảng hiệu như thời còn vàng son của nó. Xóm Chùa Chi Lăng thì tỏa hãng mã đi khắp các chợ và các vùng ở TP Huế với “thương hiệu” đã có truyền thống trăm năm (nhất là nghề làm quạt).
Khi nào mới có tour du lịch?
Nhà văn xứ Huế Nguyễn Khắc Phê đã từng nói rằng: “Đến Huế, mà chưa thảnh thơi dạo bước vào chơi dăm ba ngôi nhà vườn đẹp nhất, hay chưa ghé thăm một vài Vương phủ ở chốn cựu kinh, thì coi như... chưa đến”. Tuy nhiên trong thực tế, con đường Chi Lăng với khá nhiều di tích và rất nhiều “điểm hẹn” như trên hầu như đã bị lãng quên bởi các tour du lịch và các chương trình lễ hội. Anh Nguyễn Đôn Long, hướng dẫn viên du lịch của một công tuy lữ hành Huế từng trao đổi với tôi về ước mơ có một tour du lịch về khu phố cổ Gia Hội để quảng bá rộng rãi và chính xác hơn cho du khách về “hồn xưa nét Huế”. Nhưng đến nay mọi việc vẫn dừng ở mức độ “ý tưởng” của hai “phó thường dân” vẫn còn đang đau đáu nỗi lo cơm áo gạo tiền. Nghĩ mà tiếc và buồn ngẩn ngơ cho một con đường di sản…

Làng lặn biển

Du Lịch Huế - Làng Phú Hải 1, xã Lộc Vĩnh (Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế) là một ngôi làng nghèo ven biển, được bao bọc bởi đồi cát. Người dân nơi đây quanh năm mưu sinh bằng nghề bắt tôm, ốc dưới đáy đại dương.


Nghề biển luôn đối diện với hiểm nguy nhưng vì không tìm ra nghề gì nên từ thanh niên đến người lớn đều phải ra khơi.

Tập sống dưới đáy đại dương

Ông Trần Đình Huế, 55 tuổi, có hơn 30 năm sống bằng nghề lặn ốc, với bề dày kinh nghiệm ông đã trở thành “thầy lặn”. Nhiều trai làng đến nhờ ông dạy cách “sống” dưới đáy đại dương. Ông nói: “Nghề lặn rất nguy hiểm, không phải cứ ngậm ống ôxy là lao xuống đáy biển được. Tôi dạy cho thanh niên chủ yếu là cách phát hiện luồng nước độc, giữ nhiệt trong cơ thể hoặc lặn lâu mà không bị nhức xương”. Ông Huế kể: “Ngày xưa bọn tôi đi lặn biển không có bình ôxy như bây giờ, nên xuống vài phút phải nổi lên và chỉ lặn độ sâu 4-5 m, hiểm nguy cao hơn. Giờ thanh niên làng chế được bình gas thành bình ôxy, nên chỉ cần nắm vững các bài học cơ bản là có thể tự tin sống dưới đáy đại dương cả ngày, với độ sâu lên đến 20-25 m…”.

Một trong những học trò giỏi của thầy Huế là anh Phan Vọng, 30 tuổi, khỏe mạnh rắn chắc như chàng trai mới vào nghề. Anh khoe: “Mình học lặn từ thầy Huế năm 14 tuổi. Nên giờ mình có thể sống dưới biển với độ sâu 20-25 m cả ngày liền, khi nào đói lên ăn cơm”.

Anh Phan Vọng đang chuẩn bị đồ nhái ra khơi lặn tìm tôm hùm, ốc.

Để có được thành tích đó anh phải dày công. Lúc đầu nghe nói lặn độ sâu 6-7 m đã sợ. Nhưng ở làng muốn có cái ăn thì nhất quyết phải học lặn. Lúc đầu anh học lặn chay (không bình ôxy) ở sông. Khi cảm giác biết ngụp lặn và làm chủ được nước, thầy bắt đầu cho dùng bình ôxy, tập lặn ở độ sâu chừng 2-3 m. Thời gian đầu lặn chỉ được 8-10 phút vì tức ngực và khó chịu. Khoảng một tháng sau thì quen dần và bắt đầu đi lại được dưới đáy sông.

Sau đó thì bắt đầu ra biển, lặn ở độ sâu 10 m, dưới áp lực nước, cứ nín được 10 phút lại phải nổi lên, vì nhức xương và chảy máu mũi. Thầy liền dạy cho Vọng cách xì hơi tai. Tức là khi nhảy xuống biển chỉ cần nín thở và đẩy hơi trong cơ thể ra khỏi tai. Từ đó anh có thể đi lại dưới biển cả ngày!”.

Hiểm nguy đời lặn biển

Anh Trần Đình Thuận, 28 tuổi, có 15 năm làm nghề lặn biển thở dài: “Cái nghề này bạc lắm lắm chú ơi, cực nhọc và sống-chết luôn treo lơ lửng trên đầu…”. Anh kể: “Cách đây hai tuần tôi và ba bạn thuyền ra biển, vừa xuống độ sâu 20 m thì thấy nhức xương và máu mũi trào ra. Tôi liền ngoi lên khỏi mặt nước, lên thuyền chân, tay tê cứng. Mấy anh em bàn để tôi vào bờ nhưng tiếc công và tiền xăng bỏ ra khơi nên liều ở lại. Ngồi trên thuyền thấy anh em ngụp lặn cực tôi không ngồi yên được và tiếp tục buộc chì nhảy xuống biển làm việc trở lại. 2 tiếng đồng hồ tôi bị đau lại. Lần này, tôi cũng kịp nổi lên mặt nước nhưng miệng và người không cử động được, mọi người hoảng chở tôi vào bờ. Sau hai tháng điều trị ở bệnh viện tôi mới lành…”. Tưởng lần đó anh Thuận sẽ bỏ nghề lặn biển nhưng vì phải kiếm gạo nuôi vợ và một đứa con nhỏ nên anh lại đi tiếp.

Theo anh Thuận, đầu năm 2012 cả làng đi biển gặp nước độc: “Hơn 20 chiếc thuyền, có trên 100 người ra biển trúng độc chân, tay tê cứng và nhức xương phải đi cấp cứu tại trạm xá. Luồng nước này thường xuất hiện vào tháng 5, nếu thợ nào lặn trúng luồng chính của nước độc thì nguy cơ bị bại liệt hoặc chết rất cao…”.

Từng gặp nạn trên biển, anh Nguyễn Văn Sơn vẫn lạnh dọc sống lưng khi nhớ lại: “Tháng 1-2013, tôi và bốn bạn thuyền ra biển lặn bắt tôm hùm. Lúc tôi nhảy xuống độ sâu 20 m thì nghe nhức xương, dù vậy tôi vẫn cố gắng không nổi lên mặt nước. 1 tiếng đồng hồ sau, máu trong mũi trào ra, tay chân cứng đờ, khiến tôi không đủ sức tháo chì để người nổi lên mặt nước. Tôi liền nhả vòi ôxy lấy miệng tháo sợi dây buộc chì, đạp cho người nổi lên và kêu cứu. Anh bạn ngồi trên thuyền nhảy xuống đưa lên. Tôi thấy người cứng đờ và lịm đi…”. Ông Nguyễn Tài (bố Sơn) ngồi bên cạnh tiếp: “Lúc người ta chở về nó vẫn bất tỉnh, da xanh, miệng sùi bọt mép, tôi liền thuê xe đưa nó vào thẳng BV Trung ương Huế… Lúc nhập viên, bác sĩ bảo nguy cơ sống sót chỉ 10%. Nghe vậy tôi chết lặng… mẹ nó thì khóc thét giữa bệnh viện. May mắn sau hai tháng nằm bất tỉnh nó dần hồi phục, giờ sức khỏe đã đỡ hơn nhưng chân vẫn còn bị tê và đi lại khó khăn…”.

Giờ nhắc đến chuyện đi biển, anh Sơn buồn nói: “Tôi cũng muốn rời quê kiếm nghề khác làm cho đỡ khổ và giữ được cái mạng nhưng vướng vợ con nên chắc ở lại đây tiếp tục lặn để kiếm gạo thôi…”.

Đường cùng!

Ông Nguyễn Ngọc Chinh, trưởng thôn Phú Hải 1, cho biết toàn thôn có 225 hộ với 880 khẩu: “Đất nông nghiệp ít nên hầu hết người dân sống bằng nghề lặn biển kiếm sống. Thôn có trên 20 thuyền nhỏ và gần 200 người thường xuyên lặn biển. Sở dĩ người dân nơi đây chọn nghề lặn nhiều là do không có kinh phí đóng thuyền lớn để ra khơi...”.



Ông Trần Đình Huế dù đã lớn tuổi nhưng vẫn theo con ra khơi lặn tìm ốc kiếm sống. Ảnh: V.LONG

Ông Trần Đình Lý, 55 tuổi, ứa nước mắt khi nhắc đến chuyện ba người con đều theo nghiệp bố: “Buồn lắm chú ạ, làm cha mà chẳng tìm được nghề nào tốt cho con. Ai cũng biết nghề lặn tôm hùm, ốc bạc lắm! Lại luôn phải đối mặt với bệnh tật nhưng sống giữa vùng cát này biết làm cái gì ra tiền, nếu không ra biển. Nghề này nó rút ngắn tuổi thọ con người đến vài chục năm. Tôi năm nay mới 50 tuổi mà già khụm, râu tóc bạc phếch. Tôi nhớ cách đây chừng 10 năm, gần tạ gạo trên vai mang chạy hàng chục km nhưng giờ thì chịu, sức lực kiệt rồi. Cũng vì nghề bán sức nên làng này có mấy người lặn biển sống thọ đâu…”.

Cùng cảnh ngộ, ông Nguyễn Thạch, 52 tuổi, hằng ngày vẫn cùng năm đứa con ra biển, kể: “Cách đây hai năm, tôi quyết không cho đứa út theo nghề lặn biển, nên dạy cho nó cách bủa lưới gần bờ. Nhưng giờ cá tôm trong bờ khan hiếm làm không đủ ăn. Thấy vợ con xanh xao vì đói nó lại phải học nghề lặn, giờ tôi và năm đứa con đều theo nghề này”.

Theo ông Thạch, mỗi năm nghề lặn biển chỉ hoạt động thường xuyên chừng năm tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 âm lịch), nên thu nhập bấp bênh, cuộc sống không mấy dễ thở…

Không chỉ đàn ông lặn biển mà bà Nguyễn Thị Vòm, 50 tuổi, cũng phải học nghề lặn. Bà Vòm cho biết ngày xưa, đàn ông lặn biển, đàn bà đi bủa lưới ở cửa cảng Chân Mây nhưng từ khi cảng Chân Mây cấm người dân đánh bắt cá khiến cuộc sống thêm khó khăn: “Huyện, tỉnh về nói chúng tôi dừng đánh bắt cá để tàu hàng ra vào cảng được an toàn, đổi lại người dân sẽ được tỉnh giải quyết việc làm ở cảng Chân Mây và một số nơi khác. Nghe vậy dân chúng tôi mừng và đồng ý ngay. Nhưng lời nói gió bay, hơn năm qua con tôi và nhiều người dân nộp hồ sơ, xin vào làm nhân việc nhặt rác ở trong cảng cũng chẳng ai nhận. Tôi giờ 50 tuổi cũng phải học lặn theo con ra khơi tìm tôm, ốc bán nuôi thân”.

Từ lặn sắt chuyển sang lặn bắt tôm hùm

Ông Nguyễn Văn Hòa cho biết nghề lặn của làng vốn đã tồn tại hàng trăm năm. Trước đây, người dân chủ yếu lặn sắt từ những con tàu đắm để bán, từ năm 2000 thương lái ở Nha Trang săn tôm hùm giống nên hầu hết chuyển sang nghề lặn tôm hùm. Tuy nhiên, mùa lặn tôm hùm chỉ kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 âm lịch nên việc lặn tôm hùm không thường xuyên khiến cuộc sống người dân còn nhiều bấp bênh.

Theo bài và ảnh: VIẾT LONG